Lưu trữ Blog

Huy Cận : một Vẻ đẹp của quá khứ


Từ hồi tuổi mới 20 – 25 , Huy Cận đã biết tạo cho thơ mình một vẻ đẹp khá già dặn . Cái tên Lửa thiêng , có lẽ không hẳn đã hợp với các bài thơ trong tập , đơn giản là vì chất thiêng ở đây còn thấp thoáng một vẻ phôi phai trần tục và khó lòng nói là đã có được sắc thái riêng . Mà phù hợp hơn, khi muốn tìm ra cái phần tinh hoa trong thơ Huy Cận lúc ấy , tôi muốn dùng chữ đẹp xưa , như tên một bài thơ khác của ông . Thật vậy , nếu nhớ tới Xuân Diệu , luôn luôn ta nhớ cái líu ríu cuống quýt mau với chứ vội vàng lên với chứ của ngày hôm nay thì giọng thơ Huy Cận thật khoan thai trầm mặc , nó là tiếng nói của một nhà thơ luôn sống với một quãng lùi để có thể nhìn mãi tận xa xưa . Cũng giống như Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, thơ Huy Cận hồi ấy cho chúng ta biết một khía cạnh đặc biệt làm nên cái điệu tâm hồn Việt Nam . Ngậm ngùi . Chiều xưa . Tràng giang. Nhạc sầu . .. Những bài thơ đó thuộc về cách nghĩ một thời . Quá khứ hằn lên với những vết mòn . Mờ xa mà thắm thiết . Và xa vắng , và đìu hiu . Tôi nghĩ tới cái màu ngói cổ . Tôi nghĩ tới cái cái hoà sắc riêng của những đền chùa Việt Nam , những bức tường rêu phong , những hàng cột không chói lọi sơn son thiếp vàng , mà màu đỏ ở đây như có cái vẻ trĩu xuống đất , lẫn vào chung quanh , nhẫn nại , cam chịu .
Cũng đã có lần Huy Cận nói tới một vẻ đẹp hoang dại dân dã Đường trong làng hoa dại với mùi rơm -- Tôi cùng người đi dạo giữa đường thơm . Nhưng những bài thơ hay nhất của ông thường có cái vẻ sang trọng pha chút quý phái . Cố nhiên không bao giờ ta quên rằng hồn thơ ấy chỉ có thể hình thành nhờ ảnh hưởng Tây phương . Dấu vết của thơ Pháp còn trải khắp tập Lửa thiêng ( kiểu như Sớm hôm nay hồn em như tủ áo -- ý trong veo là lượt xếp từng đôi ). Có điều , ở những bài hay nhất trong tập , ta gặp lại cái vang hưởng Trung Hoa vốn đến với ta từ lâu lắm . Xa rồi khuất ngựa sau non -- Nhỏ thưa tràng đạc tiếng còn tịch liêu . Tràng đạc là gì ? Có phải là tiếng chuông lắc trên cổ con ngựa ? Sao không nói sông dài mà lại phải gọi Tràng giang ? Không ai định hỏi và xưa nay tác giả cũng không nói . Cũng như ta không bao giờ thắc mắc về những gió thanh tân , tình vạn lý , những đồng trăng lục nhạt vàng thanh lối gần . .., chỉ có cảm tưởng những chữ ấy câu ấy nói hộ một điều bấy lâu vẫn sống âm thầm dai dẳng trong mỗi tâm hồn .
Cái vẻ chín tới này không chỉ có mặt trong Lửa thiêng mà về sau , còn một lần nưã đến với Huy Cận . Những năm sáu mươi của thế kỷ XX không chỉ là một giai đoạn thanh bình hiếm có đến với đất nước sau cuộc kháng chiến chống Pháp , mà còn đánh dấu một bước phục hưng thực sự trong đời sống thơ ở Hà Nội . Nó không đi tìm những cái mới lạ . Mà nó quay về với cái lãng mạn và bằng sự hồn nhiên của mình , đạt tới một trình độ cổ điển mới . Chế Lan Viên có ánh sáng và phù sa với cái phần e ấp chờ đợi hồi hộp khát khao ít thấy ; ánh sáng và phù sa tuy không được dư luận coi là tiêu biểu song theo tôi lại là cái phần hay nhất trong sáng tác của họ Chế . Rồi Tế Hanh có Gửi miền Bắc không dễ dãi như tác giả này vốn có ; Xuân Diệu có Cầm tay , chùm thơ tình , mà chất lượng hoàn toàn có thể đọ với Thơ thơ ngày xưa . Và Huy Cận có Trời mỗi ngày lại sáng , Đất nở hoa , Bài thơ cuộc đời … Nếu đối diện với những bài hay nhất rút ra từ ba tập này , chúng ta sẽ thấy lại cái vẻ chín , đầy đặn , chắc chắn của thơ ông . Thu tới ngoài kia -- Nghe nhân thơm trong trái nặng -- Nghe nhựa ấm trong cành thưa --- Nghe run rẩy tiếng gió ru lúa chín -- Xôn xao cuống lá rụng thay mùa. Sinh thời , nói chuyện với tôi , Nguyễn Minh Châu tỏ ý rất chịu bài Chín với mấy câu mở đầu như vậy . Còn đám học trò cấp ba chúng tôi hồi trước chiến tranh thì mê đủ thứ , cả cái cảm giác lộng lẫy toát lên từ sự hài hoà của trời đất trong Đoàn thuyền đánh cá , lẫn cái đạm bạc như một bức tranh thuỷ mạc của Mưa xuân trên biển ( mà một câu trong đó là Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm ) , rồi nữa , cái lạ lùng bất ngờ của những bài thơ Huy Cận viết từ nước ngoài ( Trò chuyện với Kim Tự tháp , Xem tranh Tề Bạch Thạch v..v.. ) . Quá mê các bậc đàn anh tới mức chịu đi sau làm cái bóng của họ là lỗi của một lớp người trẻ tuổi , song quả thực , có dễ gì vượt được một chuỗi tài năng cùng lúc toả sáng như vậy . Họ đã chín trong hoàn cảnh của họ , còn chúng tôi phải chăng cái sự sống sít , dang dở theo mãi như một nghiệp chướng ? …
Một bạn Việt kiều , cũng quê Hà Tĩnh như Huy Cận , sau mười lần về nước , gần đây có nhận xét rằng người Hà Nội có vẻ quá “chúi mũi “ vào thưởng thức văn chương , tự ru ngủ trong những câu thơ vần vèo thánh thót mà coi nhẹ tư tưởng bộc lộ qua trang viết . Lúc tỉnh táo và thử làm khác mình đi , tôi cũng muốn nghĩ thế . Nhưng biết làm thế nào ?! Thơ , với chúng tôi , đó là tuổi trẻ , là sự có mặt trong đời , là hy vọng , là cái sự hồn nhiên được gặp gỡ với bao nhiêu tâm hồn . Như với Huy Cận mà hôm nay ra đi . Chỉ vừa nghe tin ngày 19-2 ông đã vĩnh viễn nằm xuống là tâm trí đã xôn xao như những gì nhạy cảm nhất đang cùng rung lên trong lòng . Không còn những chuyện tầm thường nhếch nhác của đời sống hàng ngày , không còn bao nhiêu trơ lỳ , già cỗi , thóai hoá , nó chia rẽ những người cùng sống một thời , mà chỉ còn những câu thơ hay nhất tác giả từng viết , những câu thơ thời trẻ bọn tôi đã thuộc , lục tục kéo tới . Tác giả Lửa thiêng là thế , thơ Huy Cận đã thuộc về một phần tài sản tinh thần của cả mấy thế hệ hôm nay .

Bảo Ninh

Con người khám phá và con người thích ứng trong Nỗi buồn chiến tranh

Chiến tranh nhìn qua số phận cá nhân
Có một quy phạm thường xuyên chi phối dòng tiểu thuyết Việt Nam viết về chiến tranh vốn đang còn khá lèo tèo. Bất chấp việc chúng được viết ngay trong thời bom đạn hay trong thời bình mấy chục năm về sau, đó thường là những cuốn sách dựng lại cả một bức tranh mở ra theo bề rộng, chiến tranh được ví với một trận cuồng phong, hoặc một cỗ máy khổng lồ có sự vận động cùng lúc của nhiều số phận. Con người trong các tác phẩm đó được miêu tả trong hình thế một nhóm, một tập thể (từ nhỏ đến lớn) có tổ chức, có định hướng rõ ràng, và mỗi cá nhân không hề có ý muốn trở thành độc lập bên cạnh đám đông. Mặc dù vẫn còn những nét riêng tư, nhưng họ không bao giờ tồn tại như những con người tự thân, mà chỉ được xem như người phát ngôn cho một vấn đề của xã hội.
Chỗ giống nhau giữa Xung kích của Nguyễn Đình Thi và Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu chẳng hạn là cả hai đều bám vào một sự kiện cụ thể (mỗi cuốn sử dụng một chiến dịch “làm nền”) rồi trong đó, một dàn nhân vật đi về lui tới suy nghĩ. Cái mà người ta còn lưu lại trong đầu sau khi đọc là một không khí chiến tranh nói chung, còn vấn đề “con người trong chiến tranh” chỉ là một nhánh phụ. Để hình dung ra con người, bạn đọc phải đi theo lối đường vòng, và chắp nối người này một chút người kia một chút.
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh ngả sang một cách viết khác. Thực tế là trong cuốn tiểu thuyết này, người ta có dịp bắt gặp toàn bộ chiến tranh - một cuộc chiến tranh với đủ những địa điểm và những khoảnh khắc tiêu biểu từ ngày đầu đến ngày cuối (không khí Hà Nội khi thành phố bắt đầu tiễn con em ra chiến trường; những chặng đường từ hậu phương tới mặt trận; những ngày sau tết Mậu Thân; giải phóng Sài Gòn…). Song tất cả đều thông qua ý thức của nhân vật Kiên chứ không phải miêu tả trực tiếp. Tức là ở đây, chiến tranh chỉ được thể hiện qua một con người, tác phẩm từ đầu đến cuối men theo những ý nghĩ của nhân vật, dày đặc vui buồn, hối hận, trăn trở, bất lực của anh ta. Trùm lên tất cả chỉ có một đường dây là từng trải của Kiên, mạch suy nghĩ của Kiên, và bao quát hơn là số phận của Kiên. Thật khó đẩy tác phẩm vào trong vòng tay của những khái niệm như “bức tranh toàn cảnh”, hoặc “một thiên sử thi hoành tráng” mà chúng ta quen nghĩ.
Trong khi mọi sự kiện trước sau bị đảo lộn về thời gian thì chúng lại tỏ ra rất mạch lạc, nếu xét theo sự phát triển của ý nghĩ và tình cảm của nhân vật chính. Mỗi sự kiện cụ thể ngoài ý nghĩa tự thân có thêm một tầng khái quát: này là những lúc vui; này là những lúc chết lặng đi vì buồn; những lần hoang mang tuyệt vọng (không lần nào giống lần nào); một phen kinh ngạc vì cách xử sự của người này người kia. Trong suốt cuốn sách, Kiên như chỉ có một mình. Các nhân vật khác chỉ sống trong ý nghĩ cả Kiên, trong đó có một số nhân vật chỉ ngẫu nhiên được nêu ra rồi mất hút. Bù lại, tự thân Kiên đã khá đa dạng. Gần như không có việc nào của lính mà Kiên không trải qua. Trong anh, chất lính được chưng cất và cô kết lại. Lính nghĩa là không có quyền lựa chọn số phận của mình. Lính nghĩa là gặp đâu hay đấy ngẫu nhiên thất thường trôi nổi theo sự đưa đẩy của hoàn cảnh và không bao giờ dám đặt câu hỏi tại sao mình lại như thế này mà không như thế khác. Lính nhiều khi đồng nghĩa với vô vọng, bất lực.
Cảm giác của chúng ta về chất lính trong Kiên còn được củng cố, bởi với anh, cái chết luôn luôn trở lại như một ám ảnh. Suy nghĩ về cái chết thường trực khi ăn cũng như khi ngủ, khi Kiên đơn độc một mình, cũng như khi anh vui vầy giữa bạn bè. Với người lính này, cái chết là một bộ phận của chính cuộc sống.
Một trong những lý do khiến cho nhiều người kiên trì lối viết “tập thể nhân vật” nói trên: người ta cho rằng làm thế mới có khả năng xây dựng được những điển hình khác nhau và cái nào cũng cụ thể sinh động, từ đó gộp cả lại khái quát nên thứ “chân dung nhóm” bao quát các kiểu dạng con người đương thời. Xét về khía cạnh nghề nghiệp, tuy không tuyên bố, nhưng dường như Bảo Ninh muốn nói thật ra một nhà văn không thể biết nhiều như anh ta vẫn tưởng; may ra anh ta chỉ biết chính mình. Và từng con người mới quan trọng, từng con người chính là “vấn đề của mọi vấn đề”, kể cả khi người ta sống và nghĩ về chiến tranh.
Cuộc sống dưới dạng hồi ức
Ra khỏi chiến tranh, trong Kiên hàm chứa một mâu thuẫn thường trực. Một mặt anh chai lì đi. Mặt khác, trong anh, dòng ký ức về chiến tranh lại cuồn cuộn chảy và những chuyện nhỡn tiền chỉ là đầu mối để anh nhớ lại chuyện cũ, thúc đẩy con người nhân vật gắng vươn lên để nhận thức về quá khứ. Thành ra cái vẻ uể oải “chẳng biết dùng đời mình vào chuyện gì” (tr 77 – số trang ghi theo bản của Nhà Xuất bản Hội nhà văn, 1991) chỉ là bề ngoài. Trong cái dạng sống riêng của mình, Kiên cực kỳ nhạy cảm và ngầm chứa một khao khát vươn tới không gì cản nổi.
Sự chai lì thật ra vốn được hình thành dần trong quãng đời cầm súng của nhân vật. Những năm ấy, Kiên đã cảm thấy, “không phải là mình đang sống mà như đang bị mắc kẹt trong cõi đời này” (87). Những gì tốt đẹp trong ý nghĩ và tình cảm sớm bị mất đi. Người ta tự nguyện gác hết suy nghĩ để hành động. Rồi cái nếp sống bức bối chật hẹp như thế này còn được tô đậm thêm bằng hàng loạt bất lực thời hậu chiến. Kiên không biết lao vào kiếm sống và hưởng thụ như mọi người. Cả đến những chuyện riêng tư cũng không biết lo, có bao nhiêu việc đáng làm thì Kiên lại đã không làm, đến khi cái câu hỏi khó chịu “đi đâu bây giờ, làm gì bây giờ?” ngày ngày vang lên như một ám ảnh, thì quả thật là một cách xác nhận về tình trạng bế tắc thực sự.
Thời bình cũng như thời chiến, Kiên đều đơn độc. Chung quanh anh là những người vừa ra khỏi chiến tranh đã lập tức quên lãng, lao đầu vào cuộc kiếm sống. Trong con mắt họ, Kiên như một kẻ mộng du.
Nhưng chỉ cần đứng lùi ra xa một chút, nhìn chặng đường chiến tranh như một phân đoạn lịch sử, chúng ta sẽ thấy ngay rằng kẻ tỉnh táo không phải là cái đám đông hỗn độn kia, mà chính là Kiên. Đám đông lao vào kiếm ăn thực ra đang mê muội. Ngược lại người chiến binh sống vất va vất vưởng và tưởng đời mình như bỏ đi, mới là kẻ sáng suốt.
Nhà văn Pháp J. Cocteau từng viết về mối quan hệ giữa một thi sĩ với hoàn cảnh: “Ở đây chỉ một mình thi sĩ là người sống giữa những người chết, và chính trong giờ phút ấy thi sĩ đã làm mồi cho chính sự chết - nó đang sống hơn là thi sĩ sống.” Tình cảnh của Kiên cũng có những nét tương tự.
Hồi ức làm nên lý do để sống. Trong lịch sử văn học nhiều nước, hàng loạt cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh được viết bởi sự thôi thúc phải nói to lên cái lời đề nghị đơn giản: không được quên lãng. Một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nga V. Rasputin mang tên Hãy sống và hãy nhớ (bản dịch tiếng Việt đổi đi một chút, gọi là Sống mà nhớ lấy). Còn ở Việt Nam, cuốn truyện vừa của Nguyễn Minh Châu mang tên Cỏ lau cũng có một ý tương tự. Câu chuyện xoay quanh công việc đám lính hậu chiến đi tìm hài cốt những người chết. Sau khi bảo rằng vùng này đất tốt quá chừng, vô khối là đất mà chỗ nào cũng chỉ có giống cỏ lau mọc, tác giả viết, “Với bao nỗi toan tính hối hả trong thời bình, mỗi con người chúng ta có lẽ đôi khi cũng là một cánh rừng cỏ lau giàu sức sống, rất chóng lãng quên những người lính đã ngã xuống”. Bởi lãng quên đe dọa đến chính cuộc sống, người ta phải tiến hành cuộc chiến đấu dai dẳng để chống lại nó. Viết văn với Nguyễn Minh Châu hay Bảo Ninh nói ở đây chính là để chống lại sự lãng quên đó.
Lạ hóa chính mình lạ hóa hoàn cảnh
Những ai đã đọc Thời xa vắng, hẳn nhớ cách của Lê Lựu viết về quá khứ trong đó: quá trình tham gia chiến đấu của Sài không được miêu tả cặn kẽ. Song nhà văn vẫn làm cho người đọc thấy rõ Sài là một sản phẩm của chiến tranh, chỉ chiến tranh mới đẻ ra những con người tương tự.
Có thể nói một đặc trưng của bản thân Sài là thái độ quan liêu. Nghĩa là, Sài cũng ghi xương khắc cốt rằng mình lớn lên, bắt đầu làm người thực sự từ trong chiến tranh. Song thực chất nó là thế nào, Sài không để ý. Ngược lại Sài cứ nhơn nhơn như không, lại còn luôn tự lừa mình rằng chẳng có điều gì mà mình không hiểu, và rộng hơn tự hào rằng ra khỏi chiến tranh mà bản thân cái phần tốt đẹp trong con người mình vẫn còn nguyên vẹn.
Niềm tự tin được đẩy lên thành một ảo tưởng ấy đã làm nên cả đặc trưng của nhân vật trong Thời xa vắng. Thứ tự tin nông nổi và có vẻ như đáng yêu đó là nguồn gốc của bao thất bại đến với Sài về sau. Con người rút cục trở thành tù nhân của hoàn cảnh và càng lao đầu vào hành động tình thế càng trở nên tuyệt vọng.
Bề ngoài Kiên của Bảo Ninh không được như Sài. Dường như anh không ra khỏi chiến tranh. Mưu cầu hạnh phúc cho bản thân, anh không biết. Những trò hưởng lạc, anh không màng. Nhưng vẫn có thể nói so với Sài, Kiên vượt lên một bực ở chỗ toàn bộ sức sống của anh tập trung vào việc nhận diện chiến tranh. Nghĩ về nó. Ngày đêm ăn ngủ lúc nào cũng có nó. Muốn khôi phục lại bộ mặt của chiến tranh như nó vốn vậy. Để làm việc đó, anh sẵn sàng để cho ký ức nổi lên hỗn loạn, với dụng ý rằng sau đó tìm cách kiểm soát nó, lý giải nó một cách chủ động.
Lúc nào chiến tranh cũng được Kiên nhìn như thuở ban đầu. Anh đến với nó từ một sự vô tư không thành kiến. Luôn luôn thú thực rằng mình chưa hiểu. Luôn luôn sợ quên, sợ nhầm. Nghĩa là Kiên đã dọn lòng một cách thanh thản, đã tạo cho mình khả năng đối diện với một thực tế khó nhằn và có được ý chí ngoan cường trong việc chinh phục nó chiếm lĩnh nó. Nói cho đúng ra, khi tự nhủ rằng với cuộc chiến tranh ấy, mình phải viết, thật ra anh đã bước đầu khách quan hóa nó, tách nó ra khỏi mình, lạ hóa nó để tiêu hóa nó. Có thể nói Kiên đã tìm thấy một đối tác tốt để đồng hành trên suốt quãng đường đời còn lại.
Có một sự thực là từ lúc chưa xung vào quân ngũ đến lúc trở về, quan niệm của Kiên về vị trí và mối quan hệ của mình với chiến tranh là nhất quán. Một mặt, như Kiên từng xác định, giữa cuộc chiến tranh to lớn, anh “chẳng là gì cả” mà chỉ là một thứ đinh ốc nhỏ, hoặc như chữ anh dùng “loại con sâu cái kiến” trong cuộc biến động vĩ đại; và anh bằng lòng với số phận đó. Mặt khác, hình như ở Kiên luôn luôn có một con người nữa, tách ra bên ngoài để soi xét mọi chuyện, và đây là khía cạnh tự do bên trong, nó làm nên tầm vóc của nhân vật. Lúc đã suy nghĩ thì nhân vật không còn bị một ràng buộc nào. Không bị bắt vít vào những quan niệm thông thường. Không bị ảnh hưởng của những đồng đội chung quanh. Một cái gì cơ bản hơn, những nguyên tắc của việc làm người - nếu có thể nói như thế - chi phối anh, len lỏi trong những suy nghĩ của anh. Những kiến thức mà tuổi trẻ anh đã tiếp nhận được từ những người thân và bè bạn của nền giáo dục ở nhà trường thường xuyên trở lại để giúp anh so sánh đối chiếu với thực tế trước mắt.
Trong cái vẻ ương ương gàn gàn, Kiên vượt lên trên những người thông thường. Có thể nói trong văn học Việt Nam, đây là một trong những trường hợp hiếm hoi, ở đó con người giữ nguyên được cảm giác ngạc nhiên kỳ lạ về chính cuộc sống mà họ đã sống. Nhờ thế, một cuộc chiến tranh chưa được biết tới lại hiện ra sắc nét và độc đáo, nghĩa là không giống cuộc chiến thông thường mọi người vẫn hiểu.
Nhận thức như một lẽ sống
Trong cảm nghĩ của Kiên, chiến trường có lúc có cái không khí rờn rợn của một cuộc sống không thực. Có những khu vực ở đó, “chim chỉ bay không kêu, măng nhuốm màu đỏ “, và “rất nhiều hồng ma, một loại cây ưa máu” (các tr.7, 13). Mà đời sống sau chiến tranh khi được phản ánh vào tâm trí Kiên cũng vậy, nó có cái không khí “ nửa nhà thương nhà đòn”, như chữ dùng của tác giả.
Sự tỉnh táo trong cái nhìn hiện thực của con người này sớm bị thách thức. Thường xuyên, Kiên cảm thấy mình lạc lõng chơi vơi chẳng biết bấu víu vào đâu.
Như vậy là Kiên đã thất bại đã đầu hàng, như nhiều nhân vật vô tâm khác? (Có lúc anh đã tự nhủ: “mình chả trở lại thành người được đâu!”).
Song đó chỉ là một phía. Trong hoàn cảnh nhiều điều trái ý, khao khát nhận thức của Kiên – một khao khát chẳng những bao giờ cũng âm ỉ mà nhiều lúc lại còn bừng sáng lên đột ngột - đã trở thành cái phao để anh bấu víu. Nó mang lại cho anh lẽ sống. Kiên cảm thấy đời mình không còn ý nghĩa gì khác ngoài việc nghĩ về chiến tranh và khôi phục lại bộ mặt thực của nó. Các hồi ức của Kiên không dừng lại ở mức độ cảm giác mà vươn tới trình độ của một nhận thức. Mối quan hệ của Kiên với chiến tranh được đặc trưng bởi tự ý thức sâu sắc của nhân vật về môi trường mà mình có mặt. Sống vốn đã là để nhận thức. Với chiến tranh cũng vậy. Nơi người ta thường cho rằng mỗi con người phải quên mình đi cho hành động, thực ra lại là mảnh đất tốt cho những suy nghĩ, phản bác, thể nghiệm, kiểm tra, chấp nhận...
Chỉ cần có ít kinh nghiệm về tiểu thuyết viết về chiến tranh ở Việt Nam, người ta đã thấy những nhận thức đã đến với Kiên như vừa phác họa là vượt lên trên sự thông thường, là lạc lõng xa lạ, và đây là điều đã được nhiều nhà phê bình gọi ra. Nó cũng là nguồn cơn của nhiều giận dữ mà các đồng đội hôm qua đã ném lên đầu tác giả. Tuy nhiên, chỉ cần gạt bỏ thành kiến và lòng tự ái bẩm sinh, những người đã trải qua chiến tranh sẽ thấy con người Kiên là hoàn toàn bình thường. Nó không phải là suy nghĩ theo nghĩa thông thường , mà là sự vận động trong đầu óc thực thụ:

· Nó mang màu sắc kinh nghiệm cụ thể, kết quả của một sự tìm tòi cá nhân chứ không phải kinh nghiệm bày đàn, một thứ chân lý do người ta học đòi nói leo, bị áp đặt và không có thẩm tra thể nghiệm.

· Nó là cái gì người ta cố từ chối mà không từ chối nổi, chứ không phải nông nổi bốc đồng, một thứ làm dáng, ra cái điều suy nghĩ, ý nghĩ vừa đến trong đầu đã kêu toáng lên dọa mình dọa người.

· Nó (sự suy nghĩ ấy) lung linh tồn tại như một cơ thể sống. Trong khi ở nhiều cuốn tiểu thuyết hậu chiến khác, chiến tranh là đơn giản, chỉ có một nghĩa, dễ hiểu (để rồi dễ quên dễ chán) thì ở đây, mặc dù đã sống với nó hết lòng, con người lại vẫn như là chưa hiểu cái gì đã đến với mình trong những năm tháng không bình thường ấy.

Nhận thức ở đây đồng nghĩa với khám phá, khám phá không bao giờ ngừng. Trong cái sự chật vật để đi đến nhận thức, con người như đã ở vào trình độ sống hiện đại, chứ không phải loại người “cổ lai hy” , hùng hục hành động và chỉ biết giải thích công việc mình làm theo những công thức có sẵn.
Một đối trọng đầy sức ám ảnh
Bên cạnh Kiên thì trong tác phẩm, Phương là nhân vật nổi lên hơn hết. Trong nỗi buồn mênh mông và như một thứ không khí phả vào từng trang tác phẩm, không chỉ có nỗi buồn xé lòng của Kiên mà còn có nỗi buồn dai dẳng, nỗi cay đắng nằm tận đáy lòng của Phương. Khi Kiên đi sâu vào nhận thức để giải mã cuộc đời, cái đối tượng có sức ám ảnh với nhân vật không chỉ là chiến tranh mà còn là Phương nữa.
Trong các bài hát lẫn trong thơ ca Việt Nam đương đại, người phụ nữ những năm chiến tranh thường được hiện ra như những cô gái nhanh nhảu tháo vát, nếu không đi thanh niên xung phong hoặc làm giao liên đưa bộ đội vào chiến trường thì đó cũng là người con gái ở lại hậu phương chung thủy đảm đang, thay thế chồng con cha anh trong những công việc đàn ông thường làm. Họ hết sức năng động trong phạm vi những việc cụ thể, nhưng lại đơn giản sơ lược trong đời sống tinh thần, và thường thiên về những giọt nước mắt sùi sụt, để rồi sau đó lại đột ngột cứng cỏi một cách kỳ lạ đến mức khó hiểu. Có thể bảo đó là nét đặc biệt của người Việt nói chung, song ở phụ nữ, người ta nhận ra những biểu hiện lý tưởng.

Trong Nỗi buồn chiến tranh, Phương trước tiên vượt lên mẫu người con gái thông thường đó để trở nên một ngoại lệ. Hãy bắt đầu bằng hình ảnh Phương trước ngày tiếng súng bắt đầu nổ. Đó không phải chỉ là hình ảnh của hòa bình hạnh phúc mà ngay từ lúc ấy, Phương đã là con người của một nhận thức mới. Trong khi Kiên tính chuyện ra đi, lao vào hành động, thì Phương lại có cái nôn nao khó tả, nó là nỗi dự cảm trước một điều lớn lao đang xảy tới. Toàn bộ sự nhạy cảm của Phương được huy động khiến cho người ta cảm thấy Phương như vượt hẳn lên so với người bạn trai cùng tuổi. Phương nói ra những điều lớn lao một cách trực tiếp như là lịch sử đã ứng vào miệng cô. Buổi tối bên bờ biển (trong đợt Phương với Kiên đi nghỉ) có cái không khí huyền bí của một thời điểm mặc khải, tức mở ra điều bí mật. Từ lúc chưa ai cảm thấy, thì hình như Phương đã cảm thấy chiến tranh tới gần. Và nhất là những gì Phương phản ứng trước cái thực tại sắp tới đó thì thật bất ngờ mà suy cho cùng lại thấy rất có lý. Ngay từ lúc này người ta đã thấy Phương sâu sắc hơn Kiên. Phương không chỉ sống với cuộc đời trước mắt mà còn sống với những ký ức từ thuở người Việt viết nên Chinh phụ ngâm và ru con bằng những câu ca dao “Con cò lặn lội bờ sông – Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”.
Nếu sự chừng mực trong tiếp nhận chiến tranh ngay từ khi tiếng súng chưa nổ khiến Phương có cái vẻ tiên cảm đến mức lạc lõng so với con người đương thời, thì cái cách Phương hiểu về thời đại của mình càng sâu sắc lạ thường, một cách hiểu mới mẻ đến mức người ta phải nghi ngờ. Nói chung trong cách xử sự, Phương là con người vượt ra ngoài thông lệ. Đoạn tác giả để cho Phương cảm thấy gần với cha Kiên hơn là Kiên, Phương đứng bên cha Kiên trong cái lần ông họa sĩ này đốt tranh… bị một số người cho là giả tạo. Nhưng lô-gich của Phương là vậy. Phương và cha Kiên tự nhận là những kẻ lạc thời và lạc loài, song sự thật, họ là tinh hoa của thời đại họ , là những con người của nhân văn nhân đạo, của vĩnh cửu.
Ngay từ đầu, với trình độ hiểu biết của mình, Phương dường như đứng ngoài không gian thời gian. Từ chỗ đứng đó Phương tìm ra nguồn sức mạnh tinh thần để hòa hợp với xã hội. Kiểu nghĩ trí tuệ một cách bản năng như thế giúp Phương không cứng nhắc trước cuộc đời. Việc Phương tự biến đổi theo hoàn cảnh mà chúng ta thấy về sau như có thêm bảo đảm rằng con người tưởng như ngoại lệ này vẫn là trường hợp bình thường. Trong Phương có cái phần mà nhiều người khác có, nhưng lại lảng tránh.
Thích ứng để tồn tại
Trong những lần bàn về cuốn sách của Bảo Ninh, một số người có nhắc tới nền văn học Xôviết viết về chiến tranh, và những bộ phim làm theo nền văn học đó kiểu như Khi đàn sếu bay qua hoặc Bài ca người lính. Trong những tác phẩm ấy, các nhân vật nữ hiện lên như những con người sẵn lòng để người yêu ra đi, nhưng trong lòng xiết bao đau đớn. Rồi ngay trong lòng hậu phương bản thân họ cũng bị vùi dập. Tình cảnh đáng thương theo nghĩa con người trở nên suy đồi mặc dầu họ không muốn. Họ quay ra rượu chè chơi bời, tức chìm dần vào những lầm lạc. Yếu đuối tầm thường tồn tại trong họ ngay bên cạnh cái cao đẹp, cái sang trọng. Song không phải vì thế mà họ đáng trách: họ chỉ là nạn nhân của cuộc chiến.
Phương trong Nỗi buồn chiến tranh có những nét gần với các nhân vật người Nga nói trên.
Ở Phương không có cái kiêu ngạo đầy ảo tưởng “ví đây đổi phận làm trai được - thì sự anh hùng há bấy nhiêu” (thơ Hồ Xuân Hương).
Phương cũng không phải mẫu người con gái cam chịu hoặc gồng mình hy sinh, lấy sự đau khổ làm số phận.
Thế thì đâu là nhân tố Việt Nam còn lại trong lòng người con gái kỳ lạ này?
Đó là sự thích ứng.
Qua miệng bà mẹ của Phương, tác giả sớm nhận xét ở Phương có xu thế hoàn hảo và mơ ước nhập thân vào cuộc sống (tr. 238). Chỉ cần có chút kinh nghiệm trường đời, người ta sẽ hiểu ngay là thật vô phúc cho người nào hội trong mình cùng một lúc cả hai phẩm chất trái ngược đó. Bởi sự sống bao giờ cũng mang trong mình nó sự vô thường, sự dang dở. Muốn hoàn thiện thì người ta trước sau không tránh khỏi gãy nát, sụp đổ. Cũng may mà ở Phương, sự nhạy cảm vẫn mạnh hơn, và cô biết từ bỏ cái ao ước ban đầu kia để giữ lấy cho mình phẩm chất thứ hai.
Sự thích ứng đến với cô một cách tự nhiên. Thích ứng như sự phá bỏ nguyên tắc bất chấp mọi điều kiện, thích ứng cao hơn tự do, cao hơn lòng tự trọng thích ứng với nghĩa có thể đầu hàng, có thể giả tạo, có thể từ bỏ chính mình, miễn sao được sống.
Có lẽ phải nói tới những gì lưu truyền trong máu huyết thì mới giải thích được sự thích ứng của Phương, một sự thích ứng ấy không chỉ nhanh nhạy mà còn bền chắc và trở thành yếu tố chủ yếu làm nên sự sống của nhân vật.
Đầu tiên là sự thích ứng với những đổi thay không kiểm soát nổi mà chiến tranh mang lại. Bước ngoặt này xảy ra ở chỗ nhà ga Thanh Hóa. Phương theo tiễn Kiên. Lúc ấy cả hai từ Hà Nội vào và đã trải qua một hành trình kinh khủng. Giờ họ rơi tõm vào cái ga bị ném bom. Trong lúc lạc Kiên, Phương bị rơi vào tay một thằng đểu. (Đây là một thứ tình thế phổ biến, chiến tranh ở đâu cũng có, tuy rằng lại ít khi được nói tới trong các tiểu thuyết Việt Nam - bởi đằng sau đó, người ta luôn luôn đọc ra mặt trái của chiến tranh.)
So với những xô đẩy mà Kiên phải chịu thì sự mất mát của Phương là lớn hơn nhiều. Nhưng chúng ta hãy xem họ phản ứng như thế nào?
Sau cơn lê lết đau đớn ê chề, Phương nhanh chóng hồi phục. Trong con mắt người bạn trai, cô vẫn cứ lộng lẫy “mềm mại, mịn màng”, tóm lại là tuyệt mỹ (tr. 269).
Nhưng với Kiên, sự thích ứng của Phương là cả một tội lỗi. Phương của anh đã mang cái tội phản bội, cái tội đầu hàng, “quỳ gối trước cái số phận mới mẻ” (tr. 264) và chàng thanh niên không bao giờ tha lỗi cho cô gái về cái tội để cho kẻ khác xúc phạm tới cái tuyết sạch giá trong mà lại quên ngay được, và trở về với đời sống bình thường dễ dàng như vậy.
Trong khi Kiên đau đớn, Kiên bực tức, Kiên muốn người bạn gái phải tự xỉ vả, tự xử tội mình, phải muốn chết đi vì xấu hổ, thì ngược trở lại, Phương coi tai họa như một cái gì tự nhiên phải đến và không hề có mặc cảm phạm tội. Cô không bị ràng buộc vào những quan niệm cổ lỗ như phần lớn con người đương thời. Với cô, chung thủy hay phản bội lúc này chẳng có ý nghĩa gì cả.
Một lý do huyền bí nào đó đã mách bảo nhà văn lấy đoạn này làm cao trào của truyện và đưa nó vào phần kết, xem nó như cái chìa khóa để hiểu toàn bộ tâm lý nhân vật. Đây là thời điểm đánh dấu sự vượt cao của Phương so với Kiên, không phải chỉ trong ý nghĩ mà còn trong hành động. Từ đây, Phương như trở thành một con người khác. Phương như vừa tự phát hiện ra một cái gì rất mạnh của mình mà trước đây, mình không thấy hết, và một người như Kiên càng không thấy hết.
Nghĩ và quên đều có lý
Sau khi đã có sự thích ứng thứ nhất – thích ứng với chiến tranh – thì sự thích ứng thứ hai ở Phương - thích ứng với hoàn cảnh hậu chiến – sẽ đến một cách tự nhiên, mặc dầu nó xảy ra một thời gian dài và diễn biến với nhiều cung bậc hơn.
Một điều đối lập ai cũng thấy khi so sánh Phương và Kiên sau chiến tranh: trong khi Kiên đào bới vào ký ức và tin tưởng ở sứ mệnh người tiên tri của quá khứ mà mình tự nguyện đảm nhận thì Phương gần như có thái độ ngược lại.
Sơ đồ suy nghĩ của Kiên bao gồm mấy bước. Ra đi trong náo nức; khi nhập cuộc sớm thất vọng và bắt đầu cảm thấy cần tìm hiểu sự thực về chiến tranh; đến thời hòa bình, cái định hướng suy nghĩ này của anh càng trở nên rõ rệt. Trong thâm tâm, Kiên mang máng cảm thấy rằng đẻ mình chìm vào mạch nghĩ như vậy là có lỗi. Giá kể có thể giống như mọi người, buông mình trong lười biếng, lẫn mình đi giữa đám đông, thỏa thiệp với chung quanh thì thật tiện. Nhưng bản chất con người buộc Kiên phải làm khác. Có một cái còn quan trọng hơn sự chung sống hòa hợp với mọi người chung quanh, thậm chí cao hơn hạnh phúc theo nghĩa thông thường, đó là tìm ra sự thực đời sống. Tính chất nhất thiết của quá trình nhận thức khiến cho Kiên có cái chất mà các nhà nghiên cứu về nhân vật trong tiểu thuyết thường nhấn mạnh: sẵn sàng chống lại hoàn cảnh; đi đến cùng trên con đường đã chọn.
Theo cách hiểu thông thường, thì rượu chỉ làm cho người ta say sưa quên lãng. Đằng này Kiên lúc nào cũng khát rượu, vậy mà anh rất tỉnh, càng rượu càng tỉnh, rượu giúp anh sáng suốt tập trung sức lực vào công việc. “Chỉ có người nào biết bỏ qua những cái lặt vặt thì mới nhận ra được cái chủ yếu của đời sống” — cái nghịch lý ấy ở đây lại được ứng nghiệm.
Nhìn vào những cuộc phiêu lưu trong văn học thế kỷ XX, M. Alberes bảo rằng nay là lúc người ta không đòi hỏi nghệ thuật phải đi vào khám phá ý nghĩa bí mật của sự vật mà nó, nghệ thuật, chỉ được dùng như một phương tiện giúp con người tự vấn và thách đố lại mọi ảo tưởng cũng như sự lừa dối. Kiên sẽ phải viết tiểu thuyết là vì như thế.
Còn Phương. Khi nói thẳng khi quanh co, song bao giờ Phương cũng kiên trì một thái độ: mọi chuyện hôm qua không thể giải thích; và cách tốt nhất để sống là hãy quên hết chuyện cũ. Cuối cùng, giống như một kết cục tất yếu, Phương đã bỏ đi trong sự nhớ tiếc khôn nguôi của Kiên. Đi như là một sự lãng quên tuyệt đối.
Chúng ta nên hiểu sự kiện này như thế nào? Trước hết, với Phương đây là bước đi hợp với logic. Nếu Kiên là con người của tình thế trước mắt thì Phương là con người của một cuộc đời dài rộng hơn. Kiên là cái duy lý mà chúng ta vốn thiếu trong khi Phương là cái duy cảm mà người Việt có thừa. Kiên đầy hào hứng trong việc miên man sống với ký ức vì thật ra Kiên vẫn là mình, vẫn giữ được mình trong chiến tranh. Còn Phương, sau cái bề ngoài nhởn nhơ và cái vẻ đẹp nguyên vẹn kia, thật ra Phương “bậc thày thích ứng” đã là kẻ chiến bại. Xét ở một phương diện nào đó, nhờ thích ứng mà Phương vẫn tồn tại, nhưng xét trên một phương diện khác, con người Phương hôm qua không còn dấu vết gì nữa, Phương đã thất bại.
Bề ngoài là một tính cách lạc lõng so với số đông, song Phương là tập đại thành của tính cách cố hữu mà người Việt nào cũng mang sẵn trong máu.
Song hành như những thách thức
Chỉ cần đứng tách ra một chút để chiêm nghiệm đời sống tinh thần của xã hội những năm chiến tranh, thì người ta phải nhận là qua việc dựng lại diễn biến của nhân vật Phương, Nỗi buồn chiến tranh có thêm một tầng ý nghĩa mới. Phương với tác giả không phải chỉ là chỉ một cách để ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ như nhiều cây bút phê bình đã viết. Nhìn lại, trong cả cuốn tiểu thuyết, ta thấy hình ảnh Phương làm nên một cái nền vững chãi cho Kiên. Bên cạnh Kiên, Phương là một kẻ đồng hành để so sánh. Một kẻ đối thoại quyến rũ. Và một cách nhìn đời khác, một thách thức. Lúc gần gũi và thông cảm với nhau, Phương là cái phần cao đẹp mà Kiên không vươn tới. Lúc bị cuộc đời hành hạ, Phương là kẻ biết mau mắn chấp nhận để tồn tại, có cách nghĩ thực tế hơn hẳn so với nỗi đau đớn khôn nguôi của Kiên. Với việc bỏ đi xa để lại cho Kiên niềm nuối tiếc, Phương trở thành tượng trưng cho cuộc đời gần gũi đấy mà bí ẩn đấy, cái cuộc đời vừa tẻ nhạt chán chường vừa đầy sức quyến rũ mà trong một phút xuất thần, Lưu Quang Vũ đã kêu lên như một lời thú nhận:
Có ai nói cho lòng ta hiểu nổi

Về cuộc đời ghê gớm ta yêu
Tình thế Phương thời hậu chiến không được nói nhiều, song cái lý riêng của tình thế đó thì đã rõ. Nhân vật tồn tại như một biểu hiện của cái mệt mỏi buông xuôi thấm vào đám đông sau chiến tranh. Sau những năm tháng bất thường, nó xoay con người đến nát tươm, nó làm cho con người trở thành méo mó kỳ dị…, người ta vẫn muốn sớm quay về cuộc đời bình thường. Nhất là sau một cuộc chiến quá sức, biết mình không thể hoàn lương trở lại, người ta muốn tạm đắp điếm cho xong, muốn tìm một sự bình yên cần kíp cho cuộc sống trước mắt, dù biết là nó giả tạo. Theo mạch thời gian, thấy càng về sau Phương càng mất hình mất dạng, càng như tan biến đi, trong khi đó Kiên càng kiên trì hơn với những câu hỏi ám ảnh, càng trở thành chính mình. Phương là sự bình ổn với bất cứ giá nào, bình ổn để nhắm mắt sống cho qua cái hiện sinh ngoài tầm kiểm soát; ngược lại Kiên – trong hành động nhận thức của mình - lại nổi bật lên như là yếu tố hư vô mà thách thức và do đó thúc đẩy cuộc đời đi tới.
Việc miêu tả quá trình song hành giữa hai nhân vật có sự bổ sung cho nhau như Phương và Kiên khiến cho hình ảnh con người trong Nỗi buồn chiến tranh như được gợi mở với nhiều chiều kích rộng rãi. Trong khi ghi nhận hai nhân tố có thực trong đời sống, đồng thời tác phẩm còn tồn tại như lời mời gọi cuộc đối thoại mà lẽ ra xã hội hậu chiến nên đón nhận. Dù những đề xuất ấy không được chính thức hưởng ứng, song trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam hậu chiến, các nhân vật như Kiên như Phương vẫn hiện diện, và đấy là cái làm nên lý do trường tồn của tác phẩm. Không mấy khi, nhà văn Việt Nam xây dựng được những nhân vật có ý nghĩa thách thức như thế.
2006 -07
Nguồn: Tạp chí Nhà văn, số tháng 11-2007, tr. 113-127

MAUGHAM

MAUGHAM [*]

KINH NGHIỆM CỦA MỘT NGƯỜI THỰC HÀNH
I
Truyện ngắn là một thể tài tôi thấy thích. Thật là dễ chịu khi được sống khoảng hai, ba tuần trong thế giới nhân vật của mình, sau đó thì chia tay với họ. Lúc này, họ chưa kịp làm tôi chán - một điều thường xảy ra, sau những tháng ròng ngồi viết tiểu thuyết. Khối lượng của một truyện ngắn (khoảng 12.000 chữ) chẳng những cho phép người ta đủ để phát triển chủ đề, mà còn yêu cầu phải viết một cách ngắn gọn, một phẩm chất tôi vẫn kiếm tìm, những khi viết kịch.

Anh chăm chú tỉa tót sao cho tác phẩm của mình trông có cốt cách. Anh cố viết ngày một tốt hơn. Anh hy vọng đạt tới sự giản dị, sự rõ ràng, sự ngắn gọn. Anh nghĩ về nhịp điệu và thế quân bình của tác phẩm. Anh đọc từng câu rõ to, để xem nó vang lên ra sao. Tóm lại, anh đã xoay xỏa đến vã mồ hôi. Nhưng anh nên nhớ rằng bốn nhà tiểu thuyết xuất sắc nhất mà toàn thế giới đều biết tiếng là Balzac, Dickens, Tolstoï và Dostoïevski - đều đã viết bằng thứ ngôn từ tự nhiên mà không quá chăm lo tới cách diễn tả. Điều đó, cũng có nghĩa là nếu bạn biết kể chuyện, xây dựng hình tượng, nghĩ kỹ về một số đoạn có sức lôi cuốn, và nếu như ở bạn sẵn có cả sự say mê lẫn chính sự thật, thì dù ra bạn viết ra sao, đó vẫn là tác phẩm tốt, không phải tác phẩm kém cỏi.

Con đường duy nhất để tìm ra cái mới là không ngừng tự mình thay đổi. Và con đường duy nhất để có được vẻ độc đáo là đào sâu, mở rộng thế giới nội tâm của ngươi viết.

Sự thật không chỉ khác thường, so với hư cấu, mà còn đẹp đẽ hơn, bóng bẩy hơn. Lòng tin rằng sự kiện anh đang miêu tả có xảy ra trong thực tế mang lại cho ngòi bút nhà văn một vẻ sắc sảo đặc biệt, giữ cho nó vẻ tươi tắn mà mọi thứ hư cấu rắc rối không sao đạt được. Bởi vậy, muốn thành công, tác giả phải gợi cho độc giả tin rằng anh đang nói sự thực.

Thật không may cho tôi: tôi bắt tay viết truyện ngắn vào cái thời khi những nhà văn xuất sắc ở Anh, ở Mỹ đều đang chịu ảnh hưởng của Tchekov. Văn học thế giới vốn là một cái gì rất cân đối. Khi nó khiêng về một lối nào đó, đó là do yêu cầu nội tại của nó, chứ không phải là mốt.

... Cần phải công nhận bắt chước Tchekov không phải là khó lắm. Và mặc dầu ông đã viết được những truyện ngắn thật tuyệt, nhưng tài năng của ông không phải bách khoa, dùng vào việc gì cũng được. Chính ông rất hiểu giới hạn của mình. Ông không biết xây dựng những truyện ngắn cô gọn, đầy kịch tính mà người ta có thể kể lại sau bữa ăn trưa, như những truyện Chuỗi đồ nữ trang, hoặc Món gia tài (của Maupassant - N.D.). Ông là người tốt bụng và có nghị lực, nhưng sáng tác của ông bao giờ cũng toát ra vẻ buồn chán, rầu rĩ, và với tư cách một nhà văn, thường ông chán ngấy những cốt truyện giàu hành động hoặc mọi yếu tố có tính chất thái quá. Cảm giác hài hước của ông, một thứ hài hước đau xót, đó là phản ứng của một con người nhạy cảm tới mức bệnh tật trước mọi kích thích thường xuyên giày vò. Ông nhìn thấy cuộc sống chỉ có một màu duy nhất. Các nhân vật của ông không phải những nhân cách mạnh mẽ. Đối với ông, họ là nhũng người không có gì đáng quan tâm. Có thể chính bởi vậy mà ông gợi cho ta cảm tưởng là giữa các nhân vật chẳng có gì khác nhau, tất cả họ như những chấm lờ mờ, nhợt nhạt, lẫn vào nhau.
Tôi không biết tôi có thể viết những truyện kiểu Tchekov hay không. Nhưng tôi không muốn vậy. Tôi muốn truyện của tôi có một cái mạch chắc chắn, chạy từ đầu đến cuối. Theo tôi hiểu, truyện ngắn là sự trình bày một sự kiện theo trình tự của câu chuyện diễn biến, hoặc theo trình tự của tâm tình. Nhờ sự thống nhất có tính kịch, sự trình bày đó có thể loại trừ tất cả những gì không cần thiết để bộc bạch ý nghĩa. Tôi không sợ cái người ta gọi là “lôi cuốn người đọc”, “đánh vào trí tò mò của họ”. Với tôi, cái đó chỉ cần đề phòng và phản đối, trong trường hợp

nó dẫn đến những hiệu quả giả tạo có tính chất bề ngoài, chứ không phải toát ra từ thực tế câu chuyện. Tôi không muốn kết thúc truyện của tôi bằng những cái dấu ba chấm mà bằng những dấu chấm chính xác.

II

Bạn đọc có thể nhận xét rằng nhiều truyện ngắn của tôi được viết từ ngôi thứ nhất. Thủ pháp văn học này cũng cũ như là thế giới vậy. Mục đích của thủ pháp này là giúp cho chúng ta có thể đạt tới sự thật một cách đầy đặn nhất: nếu có ai nói với bạn một điều gì xảy ra với chính họ, bạn thật dễ tin, hơn là họ kể về một chuyện xảy ra với những người khác. Theo cách hiểu của những người viết truyện ngắn, thủ pháp này còn có ưu thế là nó cho phép tác giả chỉ kể về những gì anh ta biết và bỏ qua những gì không biết, hoặc do điều kiện nào đó, không thể biết được. Có một số tác giả sử dụng thủ pháp này hơi tùy tiện, họ dám thuật lại những câu chuyện dông dài họ chưa từng nghe, hoặc dám kể lể về những sự kiện họ không được chứng kiến (tính chất của truyện không cho phép chứng kiến như vậy!). Như thế, các tác giả đó đã làm mất đi một ưu thế của lối viết truyện từ ngôi thứ nhất Rồi ra người viết truyện cũng là một nhân vật trong truyện ngắn, tham gia vào câu chuyện như mọi nhân vật khác Anh ta có thể là người tham gia vào mọi hành động xảy ra trong truyện, có thể là người chứng kiến, cũng có thể chỉ là một người được các nhân vật trong truyện tin cậy, thổ lộ cho nghe mọi chuyện bí mật. Nhưng nhân vật này, tức tác giả - phải có cá tính của mình. Sử dụng thủ pháp này, nhà văn nên nhớ mình đang làm một công việc hư cấu nghệ thuật, và nếu anh ta có làm cho nhân vật xưng tôi trong truyện giàu trí tưởng tượng hơn, điềm tĩnh hơn, thẳng thắn hơn, sắc sảo thông minh hơn, so với chính người nhà văn vốn có – thì người đọc cũng nên rộng lượng thông cảm với anh ta. Bởi lẽ, xin bạn đọc nhớ cho, nhà văn không làm công việc vẽ lại chân dung mình, mà là xây dựng hình tượng, trả lời cho những yêu cầu của truyện ngắn bạn đang đọc.

Nhiều truyện ngắn của tôi được viết từ ngôi thứ nhất, nhưng tôi đề nghị bạn đọc đừng có nghĩ là mọi chuyện viết trong đó đều xảy ra đối với tôi. Đấy chẳng qua là một cách làm cho câu chuyện thêm phần đáng tin cậy. Cách làm này có chỗ không hay của nó, trong tâm trí bạn đọc, không khỏi có lúc nảy ra ý nghĩ người viết truyện không thể biết về tất cả những gì đã được kể trong truyện; và nếu đây là truyện trong đó một nhân vật – ví dụ, một viên cảnh sát, hoặc một thuyền trưởng - xưng tôi thì bạn đọc có thể phản đối, bởi lẽ, các nhân vật ấy không thể trình bày, ý nghĩ của mình một cách sáng sủa minh bạch như vậy được. Mọi cách ước lệ đều có chỗ không tiện của nó. Tùy theo khả năng cho phép cần "lột trần" chúng ra, cái gì không thể giấu, cần “ngả bài", tức cần trình bày như là nó vốn có vậy. Ưu thế đặc biệt của cách xưng tôi trong truyện là nó có vẻ rất trực tiếp. Nó cho phép nhà văn chỉ nói về những gì anh ta biết, không có tham vọng làm một thứ tạo hóa “cái gì cũng biết"; anh ta có thể thú nhận rằng việc này việc nọ, vì cớ ấy cớ khác anh ta không biết và nhờ vậy, câu chuyện lại có vẻ gần sự thực hơn. Cũng nhờ vậy, bạn đọc cảm thấy mình thêm gần gũi với nhà văn. Cả Maupassant lẫn Tchekov, dù đã cố tỏ ra khách quan, trong thực tế, tác phẩm của các ông, sắc thái cá nhân từng người vẫn rất rõ. Đây đó, không khỏi có lúc trong tôi nảy ra ý nghĩ: nếu nhà văn không thể nán lòng đứng ngoài câu chuyện, có lẽ là nên tham gia vào đó càng nhiều càng tốt. Cố nhiên, trong thực tế, lại phải dè chừng là nhà văn đâm ra chiếm một chỗ quá lớn và cái bóng anh ta đổ xuống che mờ cả câu chuyện. Như trên đã nói, trong trường hợp này lại phải trở về vấn đề “liều lượng”, “mức độ”.

Có những nhà văn khẳng định rằng trong khi xây dựng hình tượng, họ không cần dựa trên một mô hình có thật (tức một nguyên mẫu - N.D.) nào hết. Theo tôi, chính họ đã lầm. Họ nói như vậy, vì chưa tính hết đến những ấn tượng và những hồi ức, mà dựa vào đó, họ đã xây dựng nên nhân vật, và họ tưởng tượng rằng họ đã "bịa ra" tất cả. Nếu phân tích cho thật chi li chi tiết, phải nói họ phải làm ra nhân vật tương tự như mọi người khác: hoặc từ các quyển sách đã đọc - một trường hợp cũng không lấy gì làm hiếm; hoặc từ những mặt người mà họ đã bắt gặp trong một dịp nào đó... Trong các sổ tay của Tchekov, bạn có thể bắt gặp những nhận xét, sau này ông dùng trong các tác phẩm. Hoặc trong hồi ức của bạn bè ông không thiếu những đoạn gọi tên chỉ mặt một số người được coi như nguyên mẫu cho các nhân vật ông miêu tả ở truyện này truyện nọ.

Đấy là một thực tế rất phổ biến. Tôi dường như còn muốn bố sung, rằng đó là một điều tất nhiên, hơn nữa, một điều rất cần thiết. Lẽ nào, nhân vật bạn miêu tả, không biểu hiện rõ ràng lên chút ít, nếu ở bạn có một hình ảnh sinh động dùng làm nguyên mẫu cho nó? Tưởng tượng không thể xây dựng từ chỗ trống rỗng không có gì. Nó cần có sự kích thích của cảm giác.

Bây giờ, nói một chút về sự hoàn chỉnh của hình thức - cái điều đã khiến cho một số nhà phê bình gọi tôi là «thạo nghề» quá. Nói chung, trong nghệ thuật, tôi thiên về sự chuẩn mực, về trật tự nghiêm ngặt và trong truyện ngắn, tôi lại càng thích mọi chuyện được sắp xếp chặt chẽ.

Tôi bắt tay vào việc viết những tác phẩm thuộc thể tài này một cách nghiêm chỉnh, sau khi đã tích lũy được một số kinh nghiệm trong viết kịch, trước tiên là kinh nghiệm cần biết quăng đi những gì không trực tiếp phục vụ cho hành động kịch. Kinh nghiệm đó cũng dạy tôi phải làm

sao để các tình huống kịch gắn bó với nhau được tự nhiên, và mọi chuyện nối tiếp nhau một cách hữu cơ, rồi tiếp tới cao trào của truyện đúng như tôi đã nghĩ trước. Tôi hiểu rằng quan niệm như thế này có thể dẫn tới kết quả rất dở, sự bố trí xít xao đôi lúc làm cho người ta e ngại. Ít ra thì người đọc cũng dễ nghi ngờ: trong thực tế, mọi chuyện không thể chắp nối vào nhau khéo léo đến như vậy. Trong thực tế, các "cốt truyện" thường khó phân tích rành mạch, không rõ bắt đầu ở đâu và chấm dứt mọi chuyện ở đâu. Đó cũng là một ý của Tchekov, khi ông nói rằng truyện ngắn chẳng cần "khai từ", chẳng cần “kết thúc" gì hết. Không nghi ngờ gì nữa, đôi khi người đọc cảm thấy như là khó chịu khi thấy nhân vật xử sự đúng răm rắp theo tính cách của nó, và các tình thế nối tiếp chính xác như trong một sơ đồ.

Còn nếu tác phẩm thành công, tức tác giả bắt bạn tiếp nhận cái nhìn của ông ta về thế giới, và khiến bạn hài lòng theo dõi những ý đồ mà ông ta thực hiện. Thực tế là nhà văn không chứng minh điều gì. Ông ta chỉ vẽ ra một bức tranh và đặt trước bạn. Bạn cần phải hoặc là không, hoặc là tiếp nhận bức tranh đó.

Tác giả loại này không chỉ muốn mang lại cho người đọc một cảm giác nào đó về cuộc sống, mà còn muốn giới thiệu một hình thức trình bày tác phẩm. Ông ta cần biết tổ chức các sự kiện thực tế sao cho tương ứng với những nhiệm vụ của mình. Ông ta theo dõi kế hoạch đẩy cái này lên, thêm cái khác vào, sang sửa mọi thứ theo ý đồ đã định trước: ông ta đạt đến mục đích là làm ra một tác phẩm nghệ thuật. Có thể trong khi mải mê như vậy, ông ta để cuộc sống “lọt qua các kẻ tay” và đành chịu thất bại,. Cũng như, mọi chuyện sẽ hỏng hết, nếu như truyện ngắn trở thành giả tạo, không thể tin được.

Trích từ cuốn Tổng kết, bản dịch tiếng Nga, 1957

Và tạp chí Những vấn đề văn học, 1966, số 4.

[*] William Somerset Maugham, nhà văn Anh hiện đại (1874-1965) viếtt tiểu thuyết, viết kịch. Ông cũng là tác giả nhiều tập truyện ngắn.

BÙI HIỂN

NGHỀ NGHIỆP TRUYỆN NGẮN

Có những nhà văn viết truyện ngắn nổi tiếng, viết rất nhanh, nhiều, đều đặn, cung cấp đều bài cho báo hằng tuần. Có truyện hoàn thành trong một tối! Quen tay nghề? Cũng có một phần. Nhưng trước hết, đó là sự dồi dào tích lũy của bản thân nhà văn: dồi dào ý nghĩ nhận thức, cảm xúc, kết quả của sự quan sát chăm chú và có trách nhiệm trước cuộc sống. Mỗi truyện một sự việc, một tình huống, vẽ lên một nhân vật chính. Cộng lại sự việc nhiều mặt, nhiều vẻ, các nhân vật cũng vậy và thuộc nhiều tầng lớp khác nhau. Nhưng soát lại mà xem, tất cả các sự việc, các con người ấy đều được một thứ ánh sáng duy nhất dội lên, được biểu hiện dưới một góc độ nhìn nhất quán. Chứng tỏ tác giả, qua nghiên cứu cuộc sống, dần dà đã tạo cho mình một thế giới hoàn chỉnh, từ đó, nhìn ra các con người, các sự vật liền bật lên nhạy bén ý nghĩ, nhận định tình cảm yêu ghét, đồng thời cũng nảy sinh đề tài, nhân vật (tất cả nhũng cái này quấn quít nhau trong một quá trình chung vì nhà tiểu thuyết suy nghĩ bằng nhân vật), và sẵn sàng phát biểu.
Qua đó ta thấy, người viết truyện ngắn cũng phải có tích lũy lâu bền.
Truyện ngắn lấy một khoảnh khắc trong cuộc đời một con người mà dựng lên. Có khi nhân vật đặt trước một vấn đề phải băn khoăn suy nghĩ, lựa chọn, quyết định. Có khi chỉ là một cảnh sống và làm việc bình thường, trong đó nhân vật biểu lộ ý chí, tình cảm của mình. Có khi có những hành động mãnh liệt, những tình tiết éo le. Có khi chỉ là một tâm trạng, một nỗi buồn vui, một ý tình chớm nở. Nhưng phải chọn khoảnh khắc mà nhân vật thể hiện đầy đủ nhất (trong khía cạnh cần thể hiện).
Hành động truyện ngắn hạn chế trong số trang. Tuy nhiên cũng cần được trình bày với nguồn gốc sâu xa của nó, đưa nhân vật đến chỗ như hiện trạng, khiến cho nhân vật tất sẽ hành động như vậy. Qua hành động, nhân vật bộc lộ thêm tính cách, có khi là một chuyển biến đột ngột,
có khi là sự tiếp tục, nhưng được nhấn mạnh tô đậm thêm.
Có những truyện ngắn hay, trong mấy trang mà nói được cả cuộc đời Hoặc chỉ dựng một vài khung cảnh chính, nhưng qua đó, biết được, đoán được ít nhiều toàn bộ cuộc đời nhân vật, trước kia thế nào và số phận sau này có thể sẽ ra sao.
Tác giả phải hiểu biết về nhân vật nhiều hơn những điều mình biết về con người ấy.
Qua tính cách và hành động, các nhân vật đại diện cho một cách suy nghĩ, xử sự, một thái độ sống mà tác giả biểu dương hay phê phán. Người ta thường nói nhân vật biểu hiện tư tưởng tác giả là như vậy.
Cái khó ở đây là làm sao đừng biến nhân vật thành sơ đồ luân lý. Nhân vật phải tự nhiên, phải là những con người sống. Bài học rút ra từ truyện cũng phải kín đáo, tự nhiên, như tự nó toát ra từ cuộc sống. Chớ nên gò để xây đắp những điển hình quá trọn vẹn, quá đầy đủ. Có thể ý định tác giả tốt, nhưng đọc mà thấy nhân vật, sự việc giả tạo gò gẫm thì có cảm giác nghi ngại, tưởng chừng tác giả không được thực tâm.
Nói chung những nhân vật chủ yếu của tôi đều có nguyên mẫu trong đời sống. Đó là những con người mà tôi quen biết, tôi hiểu họ đến một mức nào đó khiến có thể dựng, không những các nét bề ngoài mà cái tâm lý cốt yếu bên trong, và khi đặt họ vào một tình huống mới do mình tưởng tượng, thì tôi có thể đoán biết họ sẽ ăn nói, xử sự ra sao. Mỗi khi cái hiểu, cái thuộc chưa đến mức đó, người viết thường cảm thấy gò bó trong một số điều đã thấy, nghe, không phát triển ra được, hoặc phát triển cứng nhắc, ước lệ.
Từ nguyên mẫu đến nhân vật, có sự tái tạo của nhà văn. Đây là một điều quan trọng. Trong tác giả, hình tượng nhân vật dần dà dậy lên một đời sống riêng, nó thu gồm những nét chủ yếu trong thục tế, đồng thời lại óng ả lên những sắc thái mới, khiến cho đẹp đẽ hơn, thân thiết hơn. Cái gì đã xảy ra vậy? Nhà văn hồi tưởng lại một hình ảnh cụ thể. Nhưng cái hình ảnh ấy đã trở thành một kỷ niệm, một mảnh của quá khứ, của tâm hồn. Nó lại giàu thêm do những thứ kỷ niệm khác vang vọng tới, giao lưu, bồi đắp; do những tình cảm, suy nghĩ cũ, mới; do những ước vọng ôm ấp tha thiết; tóm lại, do cả cuộc đời, sự từng trải của tác giả.
Thường thường, khi sự nghiền ngẫm đã đến độ nhuần nhuyễn như vậy thì dễ viết ra. Khi viết hứng thú và rung động. Có lúc, suy nghĩ để nâng tầm nhân vật lên, người viết có cảm giác nâng cao tầm tư tưởng của chính mình.
Trên kia tôi đã nói đến sự tích lũy bền bỉ lâu dài. Cần thâu nhận sự sống qua nhiều người, nhiều cảnh nhiều việc, nhiều vấn đề. Vì vậy luôn luôn quan sát, học hỏi tìm ra một khía cạnh mới trong những cái bình thường, thông thuộc nhất. Những điều ghi được (trên giấy và trong trái tim), chưa biết nó sẽ dùng ở đâu, như thế nào, nhưng đều có thể là chất liệu quí. Có khi vài dòng ghi ngắn, đọc lại, kết hợp với cái khác, bỗng gợi cho mình một đề tài, một cốt truyện, một nhân vật. Có nhiều tài liệu ghi chép đã lâu, vẫn chưa được đụng tới. Chẳng hề chi! Những cái ấy vẫn có thể góp làm cái nền hiểu biết, nền suy nghĩ và tình cảm của mình. Tôi còn cất giữ cuốn sổ tay về những ngày về thăm một vùng thuộc vành đai trắng quanh Hà Nội (sau tiếp quản thủ đô). Hồi bấy giờ tôi có viết bài phóng sự cho báo về công cuộc phá hoang, phục hồi sản xuất Nhưng vẫn đinh ninh một ngày kia thế nào cũng phải về thăm lại. Đã hình dung trước, qua nhiều điều đổi mới, chắc chắn sẽ phổng phao lên bao nhiêu hình ảnh sự việc con người. Tôi lại càng giữ gìn tất cả những nhật ký, sổ tay ghi chép vê thời kỳ sống trong vùng Trị - Thiên tạm chiếm. Chỉ cần đọc lại một vài trang, ôn lại một vài bóng dáng, chị cán bộ, bác nông dân chủ nhà, bỗng thấy da diết lạ lùng mong chờ ngày thống nhất.
Có khi « vật liêu » đã đầy đủ cả, đã xe cả đến "công trường", thế mà khởi công cũng hết sức chật vật. Những trang đầu, viết đi viết lại vẫn cứ đổ lên đổ xuống. Mãi vẫn không vào không khí. Ngòi bút cứ như bị đẩy bật ra. Theo kinh nghiệm riêng của tôi, nguyên do chính là tác giả chưa thật hòa nhập vào với nhân vật, thế giới bên trong của nhân vật. Lúc bấy giờ, cứ phải thử, thử bằng nhiều cách, như một cuộc đánh thành, xem chỗ nào có thể đột nhập. Cuối cùng tìm được lối vào. Đó là lúc tác giả đã nhập thân (tuy vẫn giữ được phần chủ động sáng suốt của mình), đã nhìn được tình hình, sự việc qua con mắt, tâm trạng của nhân vật chính. (Nhiều khi qua đó mà quyết định cả cách bố cục toàn bộ).
Nghiên cứu các tác phẩm truyện ngắn đã thành cổ điển, đều thấy nhanh, gọn, tránh phân tích tâm lý dài dòng; lấy cử chỉ thái độ bên ngoài, có khi rất tinh vi nghiệm nhặt, để phát hiện những chuyển biến nội tâm nhiều khi đột ngột, kì thú. Chắc chắn các tác giả, ngoài sự xem xét trực tiếp đời sống, đã để tâm suy nghĩ thể nghiệm rất nhiều về những hiện tượng tâm lý (một địa hạt phong phú và phức tạp) ở người khác và ngay ở chính mình.
Con người Việt Nam. Con người chúng ta hiện nay, đặt trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, đang làm nhiệm vụ một cách vẻ vang. Người cầm bút, ai đã từng đi vào giữa lòng quần chúng nhân dân đang chiến đấu, sản xuất mà không thấy yêu mến tự hào! Trên cơ sở mối tình cảm gắn bó đó, chúng ta hãy thể hiện họ cho thực! Cho hay! Đó là một đề tài mới, có nhũng vẻ đẹp riêng, mà rõ ràng chúng ta chưa khám phá được mấy. Tả sự việc biểu dương thành tích, và cốt nhất là vẽ lên được cái thần thái. Không những nói cái họ làm, mà nói cách họ làm (như người ta thường khuyên dặn), và qua cách đó, khắc họa được tinh thần, khí phách, sự phong phú tâm hồn, một cách khiêm tốn nhuần nhị (như chính bản thân họ), không khoa trương giả tạo.
Khi miêu tả, người viết phải bằng con mắt bên trong, thấy biểu hiện lên đối tượng mình miêu tả, mình có thấy mới làm cho người đọc có thấy. Có thấy rõ, mới biết lấy ra những cái chủ yếu, để làm nổi bật trong mấy nét bút gọn, sắc. Không tỉa tót, tỉ mỉ, rườm rà. Đôi ba nét phác gây được ấn tượng, có thể thay cho một đoạn tả dài. Điều đó quy định cách chọn chữ, cách vận dụng hình dung từ. Và cả cách hành văn nữa, sao cho khớp với nhịp điệu của ý nghĩ, tình cảm, cử chỉ, hành động. Có lần viết xong một câu, đọc lại tôi thấy có cái gì chưa ổn. Đường nét của nó quá rành rọt dứt khoát, không ăn nhịp với tâm trạng đang băn khoăn vương vấn của nhân vật. Về sau, chỉ cần đổi vị trí một chữ, lấy cái chủ ngữ trước ở đầu câu chuyển vào giữa tự dưng thấy lọt tai hơn (l).

Nguyễn Công Hoan

MỘT SỐ KINH NGHIỆM
Truyện ngắn và truyện dài phải khác nhau ở tính chất.
Truyện ngắn không phải là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết với sự bố trí chặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câu dùng tiếng có cân nhắc.
Muốn truyện là truyện ngắn, chỉ nên lấy một ý chính làm chủ đề cho truyện. Những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chủ đề ấy. Không có chi tiết thừa, rườm rà, miên man.
Mỗi truyện cần có một ý, một ý thôi. Ý ấy là ý chính của truyện nhưng thực ra ở trước mắt. Thường thì nó chỉ là một câu hỏi mà tôi vụt nghe thấy, hoặc một hình ảnh thoáng qua trong khi tôi đi đường. Nó cũng là một chi tiết của một thời sự, hoặc chỉ là tấm ảnh đăng trên báo. Nó cũng lại là những câu thì thào từ miệng nọ sang miệng kia. Nếu đề tài ấy, bản thân nó đã nói lên được cái gì thì tôi viết nó bằng một thái độ do nếp nghĩ của tôi tạo ra. Nhưng thường thì đề tài chỉ gợi được cảm xúc. Lúc đó, tôi xây dựng truyện bằng cách chắp nối chi tiết, hình ảnh tâm lý, lời đối đáp, làm cho nó ăn khớp với nhau, để cuối cùng, ở câu kết, làm nổi bật được vấn đề muốn đặt ra hoặc đã giải quyết.
Theo tôi nhận xét, khi một truyện diễn ra từ đầu đến cuối bằng nhiều cách nhiều việc, tác giả nên đóng vai người ngoài mà kể lại cho độc giả nghe.
khi một tiểu thuyết chỉ dựa vào cảnh vào việc để nói lên sự diển của tâm lý, của tư tưởng, người viết truyện dùng hình thức kể chuyện cũng không sao. Nhưng tốt hơn là nên dùng hình thức mình kể chuyện mình. Mình nói tâm lý tư tưởng mình thì được người nghe dễ tin là thực, là đúng.
Tôi đã không dùng hình thức mình kể chuyện mình trong Hai thằng khốn nạn, Thầy cáu, bởi vì những truyện này cần tả nhiều cảnh, nhiều việc. Nhưng tôi đã xưng tôi trong Tôi chủ báo, anh chủ báo để tả những ý nghĩ bẩn thỉu của bọn con nhà giáu vì danh hão mà bị lừa và đi lừa lẫn nhau. Tôi đã xưng tôi trong Cái lò gạch bí mật để tả những ý nghĩ của vai phụ, là một anh này phục vụ một anh lố khác, vì anh lố khác cứ tự cho mình là tinh khôn.
Ngoài hai hình thức trình bày truyện này, thỉnh thoảng ta cũng nên tìm tòi mà thay đổi lối kể chuyện, để viết cho đỡ chán.
Thế là mợ nó đi Tây chỉ là những bức thư lẻ tẻ của người vợ đi du học bên Pháp viết cho chồng.
Chiếc quan tài là một truyện mà chủ động là một vật vô tri, nhưng đã hành động rất linh hoạt.
Cô Kếu gái tân thời, Nỗi lòng ai tỏ là những truyện không có chuyện.
Hai cái bụng không những không có chuyện, còn không có cả hành động nữa.
Tơ vương là truyện viết theo thể nhật ký.
1931-1932 là truyện tôi không phải việt một chữ nào. Tôi đã cắt những mẩu báo đăng về một sự việc diễn ra trong hai năm này với trình tự thời gian hẳn hoi, rồi dán lại thành mộ truyện có đầu có đuôi xảy ra về sự việc ấy !
Tôi còn muốn thử viết những truyện mà cách trình bày khó khăn hơn : một truyện mà từ đầu đến cuối kết hợp bằng toàn những cảnh không liên quan gì với nhau ; một truyện mà chủ động không phải là một người mà là một tập thể ; một truyện mà chỉ có lời một người đương nói với người khác bằng điện thoại (

Trích Hỏi chuyện các nhà văn,

Maupassant

ANATOLE FRANCE (1844-1924)
Maupassant và các nhà viết truyện ngắn Pháp
Guy de Maupassant rõ ràng là một trong những người viết truyện ngắn tuyệt vời nhất, ở một nước người ta đã viết rất nhiếu truyện ngắn, mà toàn là truyện viết tốt nữa. Ngôn ngữ của ông tươi tắn, đơn giản, tự nhiên, thật sự dân gian tới mức chúng ta có thể hết lòng yêu mến. Ông có cái ưu thế tốt nhất mà các nhà văn Pháp vẫn có: sự rõ ràng, đúng là rõ ràng và thật rõ ràng. Ở ông không bao giờ thiếu cái cảm giác về mức độ và trật tự thường vẫn thấy ở người Pháp. Ông viết, như là các chủ đồn điền vùng Normandie vẫn sống, nghĩa là thận trọng và vui vẻ. Mặc dù có cốt cách mực thước như vậy, các tác phẩm của ông vẫn gợi cảm, thơm phức như thứ bánh mì chín tới, các kiểu hết sức đa dạng: trí tưởng tượng của ông phát triển phong phú, hơn bất cứ người viết truyện nào khác trong thời đại chúng ta. Không có một tên ngốc hay một gã thầy tu nào mà ông bỏ qua không tìm cách ghi nhận. Ông thật là một hoạ sĩ vĩ đại trong việc vẽ lại cái kỳ dị của con người. Không yêu quá mà cũng không ghét quá, ông khách quan phác ra cho ta thấy một người nông dân tham lam, một thủy thủ say rượu, một cô gái sa ngã, một viên công chức quèn. Ông chỉ cho ta thấy những cái kỳ quái đó một cách rõ ràng, đến mức ta cảm thấy như là chính ta nhận ra và đối với ta, những hình tượng ấy còn thật hơn cả sự thật. Như là một tay thợ lành nghề, ông biết rằng muốn là có thể làm ra mọi thứ, miễn là mang lại cho chúng sức sống.
Trong sự thản nhiên của mình, ông giống như tạo hoá làm chúng ta ngạc nhiên, khiến chúng ta rung động. Lắm lúc tôi cứ tự hỏi, ở mãi phần sâu của tâm hồn, cái con người công bình, mạnh mẽ và tốt bụng này nghĩ gì, cảm xúc ra sao? Ông có yêu những chàng ngốc vì nỗi ngô nghê của họ? Ông có thích thú với cái ác, khi thấy nó lạ lùng đến thế? Ông vui hay buồn, khi làm chúng ta vui vẻ, tự ông có cảm thấy vui? Ông nghĩ gì về con người? Ông có thái độ nào đối với đời sống? Có thể, cuối cùng, ông nghĩ rằng cuộc sống không tệ như chúng ta tưởng? Rõ ràng, ở một chỗ nào đó, ông đã xoay sở mọi phương cách, nhằm làm cho đời sống có ý nghĩa. Có thể ông cho rằng, cuộc đời phải như thế, vì trong đời nhìn đâu cũng đầy những kẻ thất bại và những kẻ tầm thường, toàn những nhân vật rất thích hợp để viết truyện ngắn. Thực ra đối với một người viết truyện đấy là một «điểm nhìn» rất hay. Nhưng ngược lại, cũng có thể nghĩ rằng ông lúc nào cũng buồn bã và đau khổ, lúc nào cũng bị giày vò bởi niếm thương cảm sâu xa, và có lúc ngấm ngầm ứa nước mắt trước những gi mà bề ngoài ông chỉ ra cho chúng ta thấy một cách cò vẻ lạnh lùng.

Tuyển tập 8 tập, tiếng Nga, t8.

Về Alphonse Daudet
Viết một cách tự nhiên, đó là phương pháp duy nhất của A. Daudet. Toàn bộ nổ lực của người nghệ sĩ, ý chí của ông, nghị lực của ông, đều hướng vào việc nắm bắt đời sống, phản ánh đời sống, vẽ nên hình ảnh nhân loại mà ông yêu mến. Cũng như T. Gauthier, ông nắm bắt được mọi dáng vẻ đời sống với những sắc thái hoàn thiện một cách không ai có thể chê trách được. Ông có khả năng lắng nghe mọi âm thanh, tiếp nhận mọi hương vị trong vẻ đa dạng vô tận của chúng. Và trí tuệ mềm mại, một thứ trí tuệ tràn đầy hình ảnh và luôn luôn giàu có của ông không ngừng tìm cách đi sâu vào những bí mật của tâm hồn con người.
Ở nhà văn có cặp mắt quan sát chính xác, đáng tin cậy, và viết một cách rất tự nhiên này, không bao giờ thấy sự khắc nghiệt và lối phản ánh bằng cách bóp méo mọi chuyện. Ông không bao giờ bôi nhọ cuộc sống, không nhìn thế giới với cặp kính đen... Ông biết khóc và biết cười. Trong tiếng cười của ông, có chút gì đó nhẹ nhõm và nhịp nhàng, như thể âm nhạc...
Tuyển tập 8 tập, tiếng Nga, t8.

TÔ HOÀI

MỘT THỂ VĂN TẬP CHO NGƯỜI VIẾT NHIỀU NÉT QUÝ

Tôi thích truyện ngắn, bao giờ cũng tìm đọc truyện ngắn, bởi coi đó là một thể loại có tính chiến đấu mạnh.

Về sở trường, có những người không bao giờ viết truyện dài thành công, có những người như nhà văn Nguyễn Tuân viết cái gì cũng ra ký, và rõ ràng là có những người không bao giờ nên, không bao giờ cần viết truyện ngắn. Hiện nay thực tế không thế. Người viết nào cũng tìm cách tiến từ truyện ngắn sang truyện dài, như đã tìm cách tiến từ truyện thiếu .nhi sang truyện viết cho người lớn. Dừng lại ở truyện ngắn, sợ không phải là nhà văn. Cái hại, ai cũng trông thấy nhỡn tiền, mà vẫn nhắm mắt theo.

Bạn đọc cũng tạp, quen đọc dài, không tinh trong thưởng thúc. Một số cơ quan xuất bản lao theo kinh doanh. Không in tiểu thuyết, sợ̣ chưa được coi là biết làm xuất bản.

Thực ra truyện dài chưa chắc đã khó. Có những anh em viết như phóng ngựa chạy, chẳng rõ mặt mày gì cả. Có những anh em chưa biết bố cục.

Như thế là do chưa được tập dượt trong truyện ngắn.

Tôi cho rằng truyện ngắn là một thể văn tập cho người viết nhiều nết quý lắm. Chỉ với truyện ngắn, người ta mới biết tận dụng từng chữ, lo săn sóc từng chữ. Nhà văn mình thường yếu không tạo được phong cách riêng. Truyện ngắn là nơi ta có thể thử tìm phong cách cho mình. Truyện ngắn đòi hỏi hoàn thiện. Ở đây, ta được rèn luyện đến việc dùng từng dấu phẩy.

Có thể nói truyện đòi hỏi nhà văn phải lương thiện.

Trách nhiệm một phần là ở các báo. Chúng ta phải dựng lại, khôi phục lại giá trị truyện ngắn cả với người viết lẫn người đọc.

Cho đến bây giờ, tôi có thể nói là chưa viết một truyện nào ưng ý bằng những truyện ngắn khá nhất của mình. Với nhiều nhà văn hiện nay, viết từng cái ngắn là vừa sức hơn cả. Viết dài một chút, độ ba trăm trang trở lên, tôi cảm thấy có những phần đã phải độn rồi. Độn, lấy cái nọ đỡ cho cái kia, kéo nhau đi. Thường trong một cuốn tiểu thuyết, chỉ được độ vài chương, và một hai nhân vật.

Nhưng sao vẫn có tình trạng nhiều anh em ham dễ, bỏ khó?

Đã có nhiều cách định nghĩa về truyện ngắn, nhưng nếu nói nôm na với nhau, đưa ra một định nghĩa để làm việc thì truyện ngắn chính là cách cưa lấy một khúc đời sống. Ở đây, có thể nói ngắn gọn, nói trực tiếp.

Cái ngắn thích hợp với cuộc sống nhanh bây giờ.

Và nếu ký nặng về phần sự thực để minh họa ý, thì truyện ngắn đã đứng hẳn ở phía của người sáng tạo.

Tôi cho rằng chính thực là mình vốn có những người viết truyện ngắn tốt mà chưa biết phát huy.

Trong kháng chiến, tôi đọc Bùi Hiển, Kim Lân, Trần Đăng. Tôi đọc Vũ Tú Nam, đều thấy có giá trị.

Lớp sau hòa bình, Đỗ Chu, Triệu Bôn, Lê Lựu, Lê Minh Khuê hay, có không khí.

Nhưng còn nhiều anh em chạy theo lối viết làm sao cho truyện đèm đẹp một chút, không có được cái chất chắc khỏe của đời sống. Một số truyện lạ xuất hiện lại quá non yếu, không đứng được.

Một số anh em khác có thực tế đấy, thực tế nhiều chi tiết đáng khen, nhưng công phu sáng tạo còn yếu. Ta cứ đọc truyện ngắn in trên báo địa phương chẳng hạn, thấy nhiều chi tiết lắm. Nhưng người viết không biết khai thác, chưa làm bật lên được một vấn đề tư tưởng nào sâu sắc, nên cũng chưa gọi là có những truyện ngắn hay được.

Tôi nhớ lại truyện ngắn của ta hồi trước cách mạng. Những Nguyễn Công Hoan, Nam Cao... Tôi đọc sang các nhà văn nước ngoài, Maurice Druon, Alberto Moravia.

Tương lai của truyện ngắn còn dài rộng lắm (1).

VT.Nh. ghi
(Viết dựa theo bài phỏng vấn đã đăng trên
tạp chí Văn Nghệ quân Đội số 8-1976).

TCHEKOV

Cần phải viết về những gì anh thấy những gì anh cảm thấy, viết một cách chân thực. Người ta hỏi tôi muốn nói gì qua truyện ngắn này hay truyện ngắn khác. Gặp những câu hỏi đó, thường tôi không trả lời. Bởi công việc của tôi là viết. Dường như tôi có thể viết mọi điều anh muốn. Giả sử anh bảo tôi viết về cái chai này. Thế là sẽ có truyện ngắn với nhan đề Cái chai. Hình ảnh sinh động làm nên tư tưởng, chứ không phải tư tưởng tạo ra hình ảnh.



Tôi không nhớ (hồi mới viết - N.D.) có truyện nào tôi phải viết quá một ngày một đêm, và cái truyện ngắn Người xạ thủ mà ông thích đó thì tôi viết ngay trong buồng tắm... Giống y như một phóng viên viết phóng sự về đám cháy, tôi đã phải viết như một cái máy, viết trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê, không cần biết độc giả như thế nào.



Sao lại nói là không có cốt truyện? Không đúng. Cốt truyện có ở mọi nơi mọi chỗ. Anh hãy nhìn vào bức tường này. Ai cũng biết ở đấy chẳng có gì cả. Nhưng anh hãy nhìn kỹ vào đó, hãy tìm trong đó một cái gì của mình, một cái gì không ai thấy được. Và anh hãy viết ra. Xin cứ tin điều tôi nói, bấy giờ thế nào cũng có một truyện ngắn. Cũng như anh có thể viết rất hay về một chủ đề đã cũ mèm như viết về ánh trăng, miễn là biết nhìn ra trong ánh trăng một cái gì của mình mà không phải một cái gì khác đã quá nhàm.



Truyện vừa, cũng như một màn kịch, có những điều kiện của nó. Cảm giác của tôi báo với tôi rằng ở đoạn cuối của thiên truyện, tôi cần phải tìm cách tập trung sao để làm nổi bật trong tâm trí độc giả cái ấn tượng đã thấp thoáng trong toàn truyện. Để làm được việc này, cần phải ít nhiều gợi lại những gì ở các đoạn trên đã nhắc tới.



Để viết về bọn ăn cắp ngựa, trong vòng bảy trăm dòng, tôi buộc mình phải luôn luôn nói và nghĩ bằng cái giọng của chúng, cảm thấy mình sống trong không khí của chúng. Nếu làm khác đi, tức thêm vào đấy những yếu tố chủ quan, các hình ảnh sẽ trở nên mơ hồ, và thiên truyện sẽ không thể cô đúc như các truyện ngắn đòi hỏi. Khi viết, tôi luôn tính tới bạn đọc, tôi hiểu những yếu tố chủ quan còn thiếu, trong thiên truyện sẽ được họ bổ sung.



Theo ý tôi, những đoạn miêu tả thiên nhiên cần luôn luôn ngắn gọn và phải xuất hiện cho đúng lúc. Những câu đại loại “Vầng mặt trời sắp lặn đùa nghịch mãi trong lớp sóng đang trở nên sẫm lại, trông như một lớp vàng đỏ thắm..." nói chúng nên quăng bớt đi. Trong việc miêu tả thiên nhiên, cần biết chọn lấy những chi tiết có vẻ bé nhỏ, nhưng gộp chúng nó lại sao cho sau khi đọc, có thể hình dung ra cả bức tranh.



Cần phải làm việc thật nhiều. Cần phải không ngừng làm việc ngày ngày. Hồi trẻ, tôi viết mỗi ngày một truyện ngắn. Sau đó thành thói quen.



Anh hãy quan sát kỹ cuộc sống, quan sát kỹ mọi người. Sau đó, có khi đang đi chơi bên bờ biển Yalta chẳng hạn, bất thình lình cái lò so của truyện chợt bật ra trong đầu óc và thế là một truyện ngắn đã có sẵn.



Anh hỏi cần viết thế nào, để có một truyện thật tốt. Trong truyện đó, không có cái gì được thừa cũng y như trên boong tàu quân sự, ở đó tất cả phải đâu vào đấy, không cái gì được thừa. Truyện ngắn cũng vậy.



Nghệ thuật viết, nói cho đúng ra, không phải ở chỗ viết như thế nào, mà là nghệ thuật vứt bớt đi những gì dở, kém như thế nào.



Theo tôi, viết truyện ngắn, cốt nhất phải tô đậm cái mở đầu và kết luận. Với cách viết văn xuôi chúng ta, lôi thôi nhất là vấn đề thời gian.



Sau những đỉnh cao mà Maupassant bằng trình độ nghề nghiệp rất cao của ông, đã đạt tới, thì thật là khó làm việc. Nhưng vẫn cần phải làm, nhất là những nhà văn Nga, trong công việc, chúng ta phải dũng cảm. Có những con chó lớn, nhưng lại có những con chó nhỏ, có điều tiếng chó nhỏ đừng có lẫn vào tiếng chó lớn mới được. Mỗi bên phải sủa bằng tiếng của mình, bằng cái giọng trời cho của mình.



Một lần nào đó, tôi đã nói với anh cần phải tạo ra thản nhiên, khi viết những truyện thương tâm, và anh đã không hiểu tôi. Nhà văn có thể khóc lóc, rên rỉ, có thể đau khổ với các nhân vật của mình, nhưng theo tôi, cần phải làm sao để độc giả khỏi nhận thấy những cái đó. Càng khách quan càng có thể tạo ra những ấn tượng mạnh mẽ. Đó, tôi muốn vậy.



Không việc gì phải lo tìm bằng được những cất truyện cho thật lắt léo. Trong cuộc sống, tất cả cứ lẫn lộn với nhau, cái sâu sắc với tầm thường, cái vĩ đai với cái bé nhỏ, cái bi thảm với cái hài hước.



Những truyện ngắn mà anh gửi cho tôi toát ra một vé giả dối ghê gớm. Cốt truyện không thể có được. Anh hãy tự kính trọng, đừng cố viết khi óc lười nghĩ.



Hãy chỉ viết không quá hai truyện ngắn trong một tuần rồi tìm cách thu bớt nó lại, làm lại, cho lao động thực sự là lao động. Đừng viết về những đau khổ mà anh chưa từng trải qua, đừng vẽ nên những khung cảnh mà anh chưa nhìn thấy, vì trong truyện sự giả dối hiện ra còn tẻ nhạt hơn nhiều, so với khi trò chuyện.



Truyện ngắn của anh tôi rất thích. Đây là một truyện tốt, thông minh, đáng yêu. Nhưng cũng như mọi khi, anh có phần uể oải trong dắt dẫn, nên chi câu chuyện đâm ra oặt oẹo không vững.



Anh hãy tưởng tượng một cái ao lớn, nước chỉ lăn tăn, mắt thường không sao có thể nhìn thấy sóng. Trên mặt ao có đủ những thứ khác nhau: dăm bào, thùng phuy, bảng gỗ. Do nước chỉ lăn tăn, tất cả những thứ đó cùng như đứng nguyên, bất động và lẫn vào nhau.



Truyện của anh cũng vậy, quá ít vận động và quá nhiều chi tiết, tới mức cái nọ chồng chất lên cái kia.



Truyện ngắn của anh rất tốt, chỉ hiềm nó dài quá, trong đó có quá nhiều chi tiết vô bổ.



Cái giọng điệu chung của truyện bị phá vỡ bởi đoạn nhân vật chính cãi nhau với vợ, một cuộc cãi nhau không cần thiết. Tôi hình dung nó giống như giữa bức tranh vẽ cảnh biển cả rất êm đềm bỗng có những ngọn sóng quá cao, nó làm cho kích thước bị xô đẩy, ấn tượng bị vụn ra, mất đi sự nhất quán đáng lẽ phải có.



Anh có biết không, muốn đánh giá một nhà văn mới vào nghề, hãy xem ngôn ngữ của anh ta. Nếu văn anh ta không có cái giọng riêng, anh ta khó lòng có thể trở thành một nhà văn thực thụ. Còn khi đã có giọng riêng, có tiếng nói của mình, với tư cách một nhà văn, anh ta đáng để ta hy vọng. Khi ấy ta có thể xem xét các mặt khác trong những gì anh ta đã viết.




(Theo Tchekov bàn về văn học, M. 1955)

Nguyễn Đình Nghi

ở Việt Bắc, những năm ấy

Để hiểu thêm về sinh hoạt văn hoá những năm kháng chiến chống Pháp, một việc có thể cùng làm trước tiên là thử ôn lại đôi nét thuộc về cuộc sống hàng ngày của các văn nghệ sĩ đã làm việc và trưởng thành trong những năm tháng gian lao ấy.

Căn phòng nhỏ của đạo diễn Nguyễn Đình Nghi thuộc một ngôi nhà xây tạm ngay sau Nhà hát lớn thành phố. Trên tường khéo léo điểm xuyết một ít hoạ tiết trang trí mô phỏng các mặt nạ sân khấu. Góc phòng, một tủ sách đơn sơ, nhưng nhìn kỹ cả sách tiếng Nga, tiếng Pháp. Một sự hiện diện ôm trùm nữa là sự hiện diện của Thế Lữ - ảnh chụp có, tranh chân dung có. Khung cảnh bài trí từ lâu, song có vẻ như nó cũng rất thích hợp trong việc làm nền cho câu chuyện mà vào những ngày cuối năm 1996 này chúng tôi hay nói với nhau: những tác động đồng thời cũng là những đóng góp của cuộc kháng chiến vào sự nghiệp xây dựng nền văn hoá dân tộc, nửa thế kỷ qua.
Những thay đổi diễn ra trong cách sống cách nghĩ của lớp văn nghệ sĩ cũ.
Trong cơn lốc của lịch sử, số phận của giới văn hoá Việt Nam lại càng gắn chặt với số phận của toàn dân tộc. Chẳng những thế, cuộc kháng chiến thần thánh sớm tự xác định là một cuộc chiến đấu có văn hoá, và sự thực là đã lôi cuốn được hầu hết những người hoạt động văn hoá nhập cuộc. Người ta bắt gặp ở Việt Bắc - đầu não của cuộc kháng chiến lúc ấy - những tên tuổi lớn của nền văn hoá cũ, Hoàng Minh Giám và Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Đạo Thuý và Lưu Hữu Phước, Phan Khôi và Nguyễn Tuân... Về phần mình, ngoài cái may mắn là con nhà nòi (con trai nhà đạo diễn Thế Lữ), gần như suốt thời kháng chiến, Nguyễn Đình Nghi còn có dịp công tác ở ngay Hội Văn nghệ Việt Nam và các đơn vị kề cận với Hội. Thành thử lẽ tự nhiên là ông thuộc người thuộc việc. Và ông đã tận mắt thấy cái sức mạnh cải tạo của kháng chiến đối với những người làm văn hoá cũ là như thế nào. Ông kể:
“Anh phải nhớ là ngay trước 1945, dân mình đã ghét Pháp lắm rồi, nên nói gì thì nói, khi các ông Đảng mình phất lên ngọn cờ đánh đuổi thực dân là tập hợp được gần hết giới văn hoá. Một người như Phan Khôi mà lúc ấy cũng hào hứng lắm. Trong một bài báo tả văn nghệ sĩ xung phong đi mặt trận, Nguyễn Huy Tưởng còn ghi lại cái hình ảnh Phan Khôi chống gậy lên phát biểu rất rắn rỏi cơ mà.
“Tôi nhớ có lần cùng ông đi công tác, mới ghé vào một quán bên đường. Chị chủ nhà ra chiều thông cảm, phải lúc loạn lạc, các cụ các ông vất vả quá. Phan Khôi trừng mắt ngay, sao lại gọi là loạn lạc, cả nước đoàn kết để đánh Pháp thế này, phải gọi là thịnh trị chứ.
“ồ, nói tới cái chuyện sinh hoạt của văn nghệ sĩ hồi ấy thì lạ lắm. Hãy thử tưởng tượng một ông như ông Hoài Thanh cao lêu đêu như thế, song lúc nào cũng đi đất. Có lẽ ông cho rằng làm thế để cải tạo con người mình. Anh em góp ý kiến là phải giữ sức khoẻ, ông ấy nghe ra, nhưng chỉ đi dép lúc ở nhà, đi công tác vẫn đi đất.
“Sinh hoạt cơ quan văn nghệ lúc ấy cũng đâu vào đấy, như các cơ quan khác. Cũng họp kiểm điểm hàng tuần. Cũng tăng gia, cũng viết bích báo. Tôi có đi giục mọi người viết bài cho bích báo, những ông như ông Nguyễn Đình Thi thường cũng vui vẻ nhận lời và nộp bài đúng hẹn. Hoặc ông Tô Hoài, ông này viết giỏi thế nào thì làm công tác cơ quan cũng giỏi như vậy.
“Nếu ai đã từng biết các ông ấy hồi tiền chiến thì mới lại càng khâm phục cái sức mạnh cải tạo của cách mạng - tất cả đều đã thay đổi đến không ai ngờ nổi” - Nguyễn Đình Nghi kết luận.
Việc đào tạo những văn nghệ sĩ mới
Sinh năm 1928, nhà đạo diễn này thuộc thế hệ những người làm nghệ thuật bước vào tuổi thanh niên khi tiếng súng toàn quốc bắt đầu bùng nổ. Trong khi những Nguyễn Đức Toàn, Huy Du, Phan Tứ, Nguyên Ngọc... trưởng thành sớm về công tác ở các đơn vị cơ sở, thì Nguyễn Đình Nghi hồi ấy một thời gian còn đóng vai học việc, chẳng hạn chỉ giữ chân thư ký ban văn thuộc vụ Văn học nghệ thuật (do Hoài Thanh là vụ trưởng) và giữ thư viện nhân thể.
Có điều, chính trong cái vai trò phụ trợ ấy, Nguyễn Đình Nghi lại có dịp học hỏi nhiều điều, và trường hợp của ông cho thấy một công việc khác của kháng chiến: việc đào tạo các trí thức văn nghệ sĩ thuộc thế hệ trẻ.
“Năm ấy tổ chức đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất. Cả Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi đều đi dự và trở về, mỗi người đều có nhận xét riêng của mình. Ví như Nguyễn Đình Thi, ông bảo “Được dự đại hội mình thấy cái dự trữ phấn khởi cách mạng - chỗ này Nguyễn Đình Thi nói bằng tiếng Pháp - được bổ sung thêm rất nhiều”.
“Đấy là về tư tưởng. Còn như về nghệ thuật, quả thực lúc đầu tôi cũng chưa hiểu nghệ thuật là gì. Song ở với các ông ấy, dần dần vỡ ra hết. Ngay trong hoàn cảnh kháng chiến, thiếu thốn đủ thứ, Thế Lữ vẫn rất nghiêm túc trong lao động nghệ thuật. Ông thường bảo: Nghệ thuật sân khấu bắt đầu từ việc căng cánh gà cho thẳng. Anh thử tưởng tượng được xem Thế Lữ dàn kịch đã thú thế nào đến lúc được nghe mọi người nhận xét về kịch Thế Lữ lại có cái thú khác. Mình học ở đấy.
“ Tấm lòng yêu kính nghệ thuật dân tộc của các ông ấy cũng kỳ lạ lắm, không chê vào đâu được. Ông Nguyễn Xuân Khoát có bài hát Thằng Nhai, thằng Nha nói về mấy anh thương binh về làng, trong đó có mấy câu đệm ca-la-pịch ca-la-pắc ca-la-poong (để gợi lại tiếng nạng trên đường). Ông Xuân Diệu nhận xét ngay: Không được! Trong tiếng Việt không có từ bắt đầu bằng phụ âm p. Và ông Khoát ông ấy phải sửa thành ca-la-kịch, ca-la-cắc, ca-la-coong...
“Bây giờ nhìn lại, chắc ai cũng cắt nghĩa: chính là trong khi chiến đấu giành độc lập mà mình thêm yêu dân tộc mình hơn. Song hồi ấy, chỉ thấy say cái đã. Tôi nhớ khoảng 1952-1953, phong trào khai thác vốn cổ dân tộc đang rất rầm rộ, một hôm đi công tác về đến bến đò gần thị xã Tuyên Quang tôi được mấy anh chị em ở đoàn văn công ra đón, đêm trăng lại lần đầu được nghe những cô Dần, cô Nhạn hát mấy bài quan họ loại như Trèo lên trên núi Thiên Thai tôi cứ ngơ ngẩn cả người, sao văn nghệ dân tộc ở mình nó đầm ấm mà vẫn lộng lẫy đến thế. Về sau, hỏi mọi người, thấy ai cũng có cảm giác tương tự - những đêm diễn chèo sân đình, các vị lão làng cỡ Ngô Tất Tố, Tú Mỡ người nào cũng khoái trá ra mặt, nói nôm na là cũng giống mình, há hốc mồm ra mà xem, rồi cười ha hả”.
Nhưng ngoài việc khai thác vốn cũ, kháng chiến vẫn là một trường học lớn. Theo con đường nào tới không rõ, chỉ biết thư viện Hội Văn nghệ luôn có sách mới, tiếng Pháp và cả tiếng Hán. Giải thích về vốn ngoại ngữ vững vàng của mình, Nguyễn Đình Nghi kể: “Tiếng Pháp tôi học với Đoàn Phú Tứ người được xem như giỏi nhất tiếng Pháp ở đấy. Còn chư Hán, anh có biết tôi học với ai không - với cụ Phan Khôi”.
Năm 1955 hoà bình lập lại, Nguyễn Đình Nghi cùng với những Đình Quang, Ngô Y Linh, Huy Du, Hoàng Vân, Thái Ly... được cử đi học Trung Quốc để rồi khoảng 1960 trở về, chia nhau gánh vác các trọng trách trong đời sống nghệ thuật. Nhưng nhìn lại đời mình mỗi người không bao giờ quên được một điều: mình đã trưởng thành từ kháng chiến.

Nguyễn Bính




46. Hai cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Bính

Nhiều nhà thơ nổi tiếng thời tiền chiến thường đồng thời có viết văn xuôi. Thâm Tâm đã viết Thuốc mê; Trần Huyền Trân đứng tên sau các tiểu thuyết Sau ánh sáng, Bóng người trên gác kinh; Anh Thơ có Răng đen. Về phần mình, Nguyễn Bính từng cho in nhiều kỳ trên báo rồi in thành sách hai tác phẩm tương đối dài hơi là Ngậm miệng và Hai người điên giữa kinh thành.
Ngậm miệng (tròn 100 trang) là một thứ tiểu thuyết độc thoại. Nhân vật xưng tôi trong truyện tự kể lại mối tình của mình với một cô gái tên là Oanh. Nhưng đó là tình yêu một phía, tình không được đáp lại. Thậm chí người con trai cũng chưa một lần dàn mặt trò chuyện với người mình yêu. Hết đứng đón để được thấy bóng dáng của nàng, chàng lại qua nhà đêm tối, trời mưa cũng đứng gần nhà nàng, chờ trong nhà... tắt đèn. Giận dỗi vì bất lực, hai lần chàng bỏ đi. Lần lên Thái Nguyên rồi ốm tương tư đã gần chết. Lần vào tận đồng đất Nam bộ xa xôi. Nhưng đi xa ít lâu chàng lại về trong tuyệt vọng. Vì Oanh vẫn không hề đoái hoài. Đúng ra, Oanh không thể gọi là một nhân vật trong Ngậm miệng đơn giản là vì Oanh không tự thân xuất hiện. Phần đầu tác phẩm, có đoạn tả Oanh đi lấy chồng, khiến tôi đứng nhìn mà xiết bao đau đớn. Nhưng đó không phải cảnh thật mà chỉ do chàng yêu quá, ngồi tưởng tượng ra. Gần cuối truyện có chương Động phòng hoa chúc dạ, tả ngày cưới của hai người nhưng chẳng qua cũng là câu chuyện ở trong giấc mơ, khi một mình chàng thi sĩ đang lăn lóc ở nơi phương trời xa lạ nằm mơ rồi vẽ ra trong đầu. Cuối truyện, tôi giận dữ nói với một người bạn: “Nếu bây giờ tôi gặp Oanh, câu đầu tiên của tôi là bảo với nàng rằng: “Oanh ơi! Oanh có biết không? Quả thật tôi không yêu Oanh một tí nào cả”.
Hai người điên giữa kinh thành Hà Nội dài hơn (139 trang) và có vẻ nhiều chất tiểu thuyết hơn. Hai nhân vật chính trong truyện là Tuấn và Điệp. Cả hai là những thi sĩ trẻ, nhưng đã trải qua nhiều đau đớn trên đường tình ái, nên rất bi quan mỗi khi bàn về phụ nữ. Theo Điệp và Tuấn “linh hồn họ đục như bùn và lòng họ đen như than” (họ đây là phụ nữ nói chung!) Một lần, chán quá, hai người nghĩ ra trò chơi kỳ cục: mua hoa xuống nghĩa trang thành phố - bấy giờ là nghĩa trang P.T ở gần Bạch Mai để xem có cô gái trẻ nào mới chết thì... đặt hoa lên mộ. Từ đó, cả Tuấn và Điệp đều hết lòng yêu Hoàng Lan, cô gái mà họ không hề biết mặt và đã chết từ mấy tháng trước. Điều này khiến bạn bè của họ như thi sĩ Trần, Quang... đều bảo họ điên. Tình cờ, một lần xuống mộ, hai chàng gặp mẹ và em gái Hoàng Lan. Họ mời Tuấn cùng Điệp đến chơi, rồi về gia đình trọ luôn thể. Nhưng đang sống trong mộng, bỗng nhiên một lần Điệp bắt gặp trong tấm gối cũ của Hoàng Lan - mà chàng thường gối - một xấp thư và ảnh. Hoá ra, trước khi chết, Hoàng Lan đâu phải trong trắng như Điệp đã tưởng. Báo tin cho Tuấn biết chuyện này mà lòng Điệp đau như dao cắt.
Đương thời, mối tình si của Nguyễn Bính với một cô gái tên là Oanh ở Hà Đông đã được nhiều người chứng kiến. Trong hồi ký Những gương mặt, ở bài viết về Trúc Đường, Tô Hoài kể: “Một hôm, vào lúc chập tối, đương đi ở phố Hàng Bông, Nguyễn Bính bấm tôi: Oanh đấy! Oanh đấy! Tôi nhìn sang bên kia hè. Trời ơi! Oanh! (...) Một cô gái mặt tròn như chiếc bánh đúc chít khăn sa tanh đen kiểu các cô bán cau khô, hàng xén chợ tỉnh. Mà cái chàng “khách thơ” Nguyễn Bính đâu có quen biết gì người ta cho cam! Hình như chỉ biết là con một ông ách ông quản gì đó ở Hà Đông. Thế mà cứ rối cả lên”. Nhưng ở đây, chúng ta không bàn đến chuyện Oanh xấu hay đẹp, Oanh có yêu Nguyễn Bính hay không. Điều quan trọng hơn đối với người nghiên cứu lịch sử văn học: con người Nguyễn Bính bộc lộ qua mối tình này ra sao.
Nếu sự vắng bóng của Oanh trong Ngậm miệng có vẻ làm hại tới tác phẩm về mặt tiểu thuyết, thì để bù lại, nó tạo ra một khoảng trống để buộc Nguyễn Bính khai thác bản thân tỉ mỉ hơn. Qua thiên truyện này, ta được đọc những trang ông tự kể về quê quán ông (làng Thiện Vinh, có “thổ sản” rau cần và chuyên nghề làm bún), gia cảnh ông (mẹ mất sớm, thiếu người chăm sóc, lúc nào cũng cảm thấy “bị chôn sống giữa một gia đình hiu quạnh như bãi tha ma”). Lá thư nhân vật xưng tôi gửi cho ông anh Hữu Cương - có thể hiểu là thư Nguyễn Bính gửi cho nhà viết kịch Trúc Đường - là một đoạn tự bạch thành thực và cảm động. Trong khoảng 8 trang sách, Nguyễn Bính đã nói gần như đầy đủ về mình và gia đình mình. Ngoài ra, trong nhiều trang sách, người ta bắt gặp những ý tứ mà sau này Nguyễn Bính sẽ đưa vào thơ. Chẳng hạn ở trang 22 tiểu thuyết Ngậm miệng Nguyễn Bính viết: “Tôi phụng thờ nàng hơn các vị tăng ni phụng thờ đức Phật, tôi tôn sùng nàng gấp mấy người ta tôn sùng một tôn giáo. Tôi luôn luôn tụng kinh vì nàng, nhưng là tụng kinh ân ái”. Đọc đoạn này, người ta không khỏi nhớ tới mấy câu kết bài Lời yêu đương.
Ai yêu như tôi yêu nàng
Họp nhau lại, họp thành làng cho xinh
Chung nhau dựng một trường đình
Thờ riêng một vị thần linh là nàng.
Điều này, người ta cũng thấy rõ trong tiểu thuyết Hai người điên giữa kinh thành.
Tuy nhiên, điều cần nhấn mạnh ở HNĐGKTH là ở chỗ khác.
Theo nhà thơ Hoàng Tấn cho biết, Nguyễn Bính thường tự nhận tiền thân của mình là bướm, và từng lấy bút hiệu là Điệp Lang. Trong thơ ông, mô típ con bướm nhởn nhơ phong tình thường trở đi trở lại. Nhân vật Điệp trong Hai người điên giữa kinh thành có nhiều nét nhang nhác con người Nguyễn Bính hàng ngày: cũng lối dễ xúc động “trông người con gái nào cũng thấy đẹp”, “gặp người con gái nào cũng nói ầm cả lên là yêu tha thiết yêu mặn mà”; cũng những cảm giác sâu nặng về truyền thống, vừa nhìn rặng hoa hoè điểm chấm vàng đã nhớ ngay chuyện ngày xưa sĩ tử đi thi.
Vậy đã rõ Điệp chính là Nguyễn Bính. Thế còn Tuấn, và Trần, Quang, hai người bạn làm thơ khác?
Theo chúng tôi tìm hiểu, Tuấn ở đây chắc chắn là hình ảnh của Thâm Tâm. Tên thật của Thâm Tâm là Nguyễn Tuấn Trình, thì chữ Tuấn chắc rút ở đấy ra, đấy là một lẽ. Lẽ thứ hai quan trọng hơn:
Tuấn ở đây, cũng như Thâm Tâm ở ngoài đời, đều là loại người khắc khổ, nhìn đời một cách bi quan. Đặc biệt, Tuấn cũng từng yêu một cô gái trẻ, tên là Khánh, trong tình yêu cũng xen vào hình ảnh những bông hoa ti-gôn “dáng như tim vỡ”, rồi cô gái cũng bỏ đi lấy chồng, khiến Tuấn đời đời ôm hận. Tóm lại, toàn là chi tiết mượn từ đời riêng Thâm Tâm, trong đó có mối tình Thâm Tâm với T.T.Kh. Còn Trần thì không ai khác, là Trần Huyền Trân. Bộ ba Nguyễn Bính- Thâm Tâm- Trần Huyền Trân gắn bó với nhau từ hồi viết Tiểu thuyết thứ năm và báo Bắc Hà, một mối gắn bó mà Nguyễn Bính từng mô tả “không đào viên kết nghĩa - nhưng cũng thành tam anh”. Vả chăng, thời tiền chiến nếu có một thi sĩ nào mà thơ “điêu luyện, cổ kính, đẹp như một bức tranh Tàu”, như Nguyễn Bính tả trong Hai người điên giữa kinh thành, thì người đó phải là Trần Huyền Trân. Sau hết, còn ai là Quang, một người bạn nữa của Tuấn và Điệp, chỉ hiện ra với mấy nét thoáng qua trong tác phẩm? Tác giả cho biết “Quang có gia đình êm ấm ở Hà Nội, nhưng lại thích đi giang hồ. Giang hồ đây chỉ có nghĩa là đi liêu biêu, nay đây mai đó để được làm thơ nhớ quê hương, nhớ mẹ, nhớ chị, nhớ tình nhân và nhớ hết mọi người.” Đây nữa, là chi tiết “thân hình anh to nhớn như voi, nhưng tính khí lại như đàn bà, rất hay khóc”. Nhà văn Tô Hoài nói với tôi: Quang đây là Phạm Quang Hoà một cây bút của nhóm Bắc Hà.
Ngoài tiểu thuyết, Nguyễn Bính còn viết truyện ngắn. Một nhà nghiên cứu cho biết năm 1944, trong thời gian ở Sài Gòn, Nguyễn Bính có truyện ngắn Không đất cắm dùi in ở tờ báo Thanh niên Đông Pháp, được báo này tặng giải nhất trong một cuộc thi. Trước đó, hồi nhà thơ đang ở Hà Nội, tác phẩm văn xuôi ký tên Nguyễn Bính in rải rác trên các báo cũng có khá nhiều. Bản thân chúng tôi mới sưu tầm được một truyện ngắn độc đáo của Nguyễn Bính mang tên Nước hồ sen. Tác giả đề rõ mình viết truyện này ở đền Yên Phú, Hà Đông và cho in năm 1940.
Nhưng hãy trở lại với Ngậm miệng và Hai người điên giữa kinh thành, ngoài giá trị tự thân, cả hai cuốn tiểu thuyết này là những tài liệu quý, giúp ta hiểu thêm Nguyễn Bính và bạn bè cùng làm văn nghệ đương thời. Chúng xứng đáng có mặt trong một Toàn tập Nguyễn Bính nghe nói đang được chuẩn bị.


47. Từ người chị lỡ bước sang ngang tới cô lái đò

Nếu nghĩ đến nước Anh, người ta nhớ tới Hamlet, để hình dung ra Tây Ban Nha, người ta liên tưởng ngay đến chàng hiệp sĩ mặt buồn Don Quichotte, thì nghĩ đến xã hội Việt Nam, nhiều người nghĩ ngay đến nàng Kiều, đến Xuý Vân... Những người phụ nữ ấy “rằng tài nên trọng mà tình nên thương”, thông minh nhạy cảm tuyệt vời là thế, nhưng số phận đâu có nuông chiều họ. Suốt đời đeo đẳng họ như cái bóng là những nỗi “đoạn trường” họ phải gánh chịu.
Với một nền văn hoá giàu nữ tính - nghĩa là thiên về tình cảm và xúc động - như văn hoá Việt Nam thì một lẽ đương nhiên là trong các sáng tác nghệ thuật, người phụ nữ thường đóng vai trò nổi bật.
Điều đó chẳng những đúng với văn học cổ điển và văn học dân gian mà còn đúng với văn học hiện đại, trong đó có những bài thơ của Nguyễn Bính, người mà cái chết bất hạnh đã cướp đi vào một ngày tất niên của năm ất Tỵ, song cái phần tinh anh, tức là thơ của ông lại vẫn đang hiện diện thường trực trong tâm trí hàng triệu bạn đọc.
Trung hậu, đảm đang...
- Em ơi em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn mẹ già em thương
Mẹ già một nắng hai sương
Chị đi một bước trăm đường xót xa.
Đặt trên cái nền của một xu thế Âu hoá bao trùm văn học tiền chiến thì những bài thơ của Nguyễn Bính trong Lỡ bước sang ngang, trong Mây Tần v.v... nổi bật lên ở những hoài niệm dai dẳng về nông thôn, những hoài niệm tưởng là âm thầm song lại vô cùng mãnh liệt. Trong cái đời sống nông thôn được lãng mạn hoá và phần nào lý tưởng hoá ấy, người phụ nữ ở vào vị trí trung tâm. Bóng dáng họ gắn liền cây đa, bến nước, những đêm hội. Bao nhiêu vất vả hàng ngày, từ tầm tang canh cửi cho đến vá may cơm nước, đều dồn cả lên vai họ. Năng động và kiên nhẫn, họ tự tin mà làm việc. Sự đảm đang quán xuyến, đức tần tảo siêng năng là những phẩm chất nẩy nở trong họ một cách tự nhiên, không cần một chút cố gắng. Trong những gia đình nửa nông tang, nửa chăm lo đèn sách - một kiểu gia đình khá phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ trước đây - thường khi họ là những trụ cột, cả về vật chất lẫn tinh thần. Qua cái hình ảnh người vợ vừa quay tơ dệt vải, vừa thúc giục chồng học hành để chờ ngày thi cử:
Một quan là sáu trăm đồng
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi.
Người ta nhận ra cái tầm nhìn không hề hạn hẹp của người phụ nữ nông thôn xưa. Hoá ra chẳng những chỉ biết duy trì đời sống trước mắt, mà họ còn âm thầm làm việc cho tương lai. Họ rất hiểu công việc đèn sách của cha anh, chồng con, và làm gì để giúp cho những người đàn ông ấy thành đạt, không bao giờ họ tiếc. Trên nhiều phương diện, hình ảnh những người phụ nữ được miêu tả trong những tập thơ đầu của Nguyễn Bính là nối tiếp của những người phụ nữ vốn đã quen thuộc với chúng ta qua ca dao, dân ca, những làn điệu chèo. Nên nhớ là vào khoảng mấy năm 1936-1939, khi Nguyễn Bính cho in mấy tập thơ đầu, thì cũng là lúc trên văn đàn xuất hiện nhiều cuốn tiểu thuyết viết về nông thôn, trong đó hình ảnh người phụ nữ được khắc hoạ với nhiều nét vẽ đa dạng, sơ lược giản đơn cũng có (một số nhân vật phụ nữ nông thôn của nhóm Tự Lực Văn đoàn), mà lố lăng thô kệch cũng có (Thị Mịch của Vũ Trọng Phụng). Chỉ riêng có người phụ nữ của Ngô Tất Tố là có được một vẻ đẹp riêng. Đảm đang lo liệu việc nhà, thương chồng thương con, quả quyết trong những hy sinh cần thiết, chị Dậu trong Tắt Đèn, như cách nói của một nhà văn, có thể coi như một thứ đài kỷ niệm về người phụ nữ Việt Nam trong đêm trường thực dân phong kiến. Thế còn ở Nguyễn Bính? Trong chừng mực nào đó, người phụ nữ nông thôn hiện lên trong Lỡ bước sang ngang, trong Mây Tần, trong Tâm hồn tôi.... có nhiều nét gần với chị Dậu của Ngô Tất Tố. Họ tượng trưng cho một đời sống văn hoá đã trở thành nền nếp của một thời và mãi mãi là biểu hiện sinh động cho những đức tính đã đi vào truyền thống của dân tộc.
Những bất hạnh thường trực và niềm thương cảm của tác giả
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái giậu mùng tơi xanh rờn
Hai ngươi sống giữa cô dơn
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi.
Ngoài con người chân quê, người phụ nữ trong thơ Nguyễn Bính còn là hình ảnh của tình yêu muôn màu muôn vẻ. Trong Mưa xuân, người ta bắt gặp những khao khát âm thầm trong lòng một cô gái quê trong trắng. Đến Nhớ, Chờ nhau, cô gái ấy lại hiện ra với những thú nhận chân thành về nỗi xao động trong lòng mình. Rồi đến áo anh, rồi Làm dâu từ nhiều bài thơ khác nhau, thấy ẩn hiện hình ảnh con người một mặt vẫn thiết tha với niềm hạnh phúc riêng tư, mặt khác, bao giờ cũng giữ được những nét ý nhị từ tốn, chúng vốn được coi như những đức tính cố hữu của người con gái, theo quan niệm của văn hoá Việt Nam. Tuy nhiên, cũng ngay ở Mưa xuân, người ta nhận ra rằng trước cái đa đoan của cuộc đời, người con gái trong Nguyễn Bính không phải bao giờ cũng suôn sẻ trên đường đi tới hạnh phúc. Thường khi, họ gặp phải những tình tự khá rắc rối. Không ít trường hợp, họ trở nên tượng trưng cho một vẻ đẹp mong manh, rực rỡ đấy mà cũng tàn lụi ngay đấy (Người hàng xóm: Hỡi ôi, bướm trắng tơ vàng - Mau về mà chịu tang nàng đi thôi). Hoặc nếu không chết yểu thì họ cũng bị giông bão cuộc đời cuốn đi, khiến cho hạnh phúc tiêu tan, mọi hy vọng trở nên hão huyền, và sự tồn tại trong đời trở thành đồng nghĩa với trớ trêu, đau đớn. Không kể Nhớ, Hoa với rượu, Viếng hồn trinh nữ, mấy bài thơ liên quan đến chị Trúc, như Xuân tha hương, Xuân vẫn tha hương, Khăn hồng, Xây lại cuộc đời.. và cả Lỡ bước sang ngang nữa, nối tiếp nhau tô đậm cái ý: hình như càng tài hoa, tế nhị, càng sâu sắc trong tình cảm, thì người phụ nữ càng dễ bị tai hoạ, và nỗi thất vọng sớm muộn rồi sẽ biến thành tuyệt vọng. Một tương lai như thế nào chờ đợi họ?
Cha mẹ đã không nuôi dạy được
Con là phận gái hạt mưa sa
Chân bùn tay lấm hay hài hán
Hay lại bình khang lại nguyệt hoa?
Cành đưa lá đón theo lời mẹ
Phách ngọt đàn hay tục xướng ca.
ở bài Oan nghiệt này, ta thấy người đàn bà trong Nguyễn Bính đã phải chịu những đau đớn ghê gớm bậc nhất, đó là rơi vào cảnh lầu xanh, và do sự run rủi của số phận, trở thành vật mua bán trao tay ngay giữa người thân của mình.
Có thể không hẳn bao giờ nhà thơ cũng có ý thức về ý nghĩa xã hội toát lên qua các bài thơ đã viết, song sự thực là, trong khi nói về những người mẹ, người chị, những cô gái mà bản thân yêu quý, Nguyễn Bính nhiều lúc đã gợi ý cho người đọc suy nghĩ về những điều có ý nghĩa khái quát. Chưa bao giờ ông kêu lên được như Nguyễn Du Đau đớn thay phận đàn bà, song hình như đấy cũng là điều toát lên từ một số bài thơ và đằng sau vẻ thơ mộng, tinh tế vẫn có thể bảo là thơ Nguyễn Bính có một nội dung hiện thực chắc thiệt, cụ thể.
Có lẽ cũng vì có lòng thương mến rộng rãi, nên có lúc Nguyễn Bính còn đi tới một sự bao dung rất lạ. Hãy đọc lại bài Cô lái đò, ông viết từ khi còn rất trẻ (1940 về trước tức khi ông mới 21, 22). Xét theo quan niệm cổ truyền thì cô gái ở đây là một người không chung thuỷ. Đã một lần nặng thề cùng ai, song do chờ đợi quá lâu, không chịu đựng nổi, cô đành lỗi ước với tình quân. ấy thế nhưng đọc đi đọc lại bài thơ, người ta vẫn không nhận ra một thoáng chê bai oán trách, mà trước sau chỉ một thái độ thông cảm.
Dường như tác giả muốn nói : trên cái nền rộng lớn và buồn đau của cuộc đời, người phụ nữ dù như thế nào đi nữa, cũng không có lỗi. Ngược lại, chỉ sự có mặt của họ đã là niềm an ủi, là chút ấm lòng cho đám khách qua sông đông đảo là cánh đàn ông chúng ta! Có thể cảm thấy điều đó khi lắng nghe lại cái âm hưởng riêng biệt toát ra từ những bài thơ Nguyễn Bính viết về phụ nữ:
Xuân đã đem mong nhớ trở về
Lòng cô gái ở bến sông kia
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước
Trên bến cùng ai đã nặng thề

Nhưng rồi người khách tình xuân ấy
Đi biệt không về với bến sông
Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi
Mấy lần cô gái mỏi mòn trông

Xuân này đến nữa đã ba xuân
Đốm lửâ tình duyên tắt nguội dần
Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi
Cô đành lỗi ước với tình quân

Bỏ thuyền bỏ bến bỏ dòng trong
Cô lái đò kia đi lấy chồng
Vắng cô em từ độ ấy
Để buồn cho những khách sang sông.



48. Tình yêu một thuở
tình yêu vĩnh viễn


Giả sử vào những ngày này nghe đồn là có một người con trai nào đó yêu một người con gái nào đó, song lại cứ nằng nặc đòi cô kia phải đan cho mình một chiếc áo len, như một thứ của làm tin, xem áo như dấu hiệu của một tình yêu, của sự chung thuỷ - hẳn nhiên nhiều bạn trẻ sẽ ... chết sặc vì cười. Sang thời buổi của xe Dream, của các quán Karaoke, cách tỏ tình của thanh niên hiện nay hiện đại hơn, do đó chắc chắn giản tiện hơn, khong rườm rà thủ tục như ngày nào. Nhưng có điều là dù thay đổi đến mấy thì bây giờ người ta vẫn phải yêu và có lúc không cách nào khác, vẫn mượn những trang thơ để bày tỏ nỗi lòng. Bởi vậy mới có hiện tượng cùng với thơ tình Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Xuân Quỳnh, những bài thơ của Nguyễn Bính viết từ nửa thế kỷ trước - trong đó, ở nhiều bài thấy lặp đi lặp lại lời than thở rằng người yêu bỏ mình rồi, mùa rét tới không ai đan cho mình một chiếc áo len nữa, vẫn đang được ưa chuộng trên thị trường sách báo và các độc giả trẻ tuổi rất thông minh hiện thời vẫn biết đọc qua những vần thơ đó cái phần con người ngày nay mới có.
Đọc tiểu sử Nguyễn Bính, người ta vẫn biết rằng trước khi lên thành phố vương vấn với các “cô gái ở lầu hoa” ở những năm ba mươi, bốn mươi của thế kỷ này, thì ông đã sống những năm đẹp nhất của tuổi trẻ ở một làng quê Nam Định. Bởi vậy, trước khi nói chuyện “đan áo len” thơ ông còn hay nhắc tới chuyện các cô gái trồng dâu, dệt lụa, may áo tặng các chàng, và một vẻ quê quê thường xuyên hiện lên như một sắc thái riêng, làm nên cái duyên dáng riêng của thơ tình Nguyễn Bính. Hãy thử nhớ lại xem khi nào thì con người ở đây yêu nhau: cùng học ở một trường huyện, hoặc sống ở hai thôn nhưng thực ra là một làng; có khi gần hơn, hai nhà chỉ cách nhau một giậu mùng tơi nho nhỏ, và thuở bé hai trẻ vẫn đùa chơi với nhau. Thật là những nguyên cớ rất hồn hậu! Rồi cái đích mà tình yêu đi tới cũng hồn hậu không kém. Lặp đi lặp lại trong nhiều bài thơ là cái công thức về một gia đình lý tưởng: vợ chăn tằm dệt vải, chồng miệt mài đèn sách để chờ ngày thi cử. Về mặt này mà xét, thơ tình Nguyễn Bính ngoài công cuộc Âu hoá đương thời, và không cần so sánh với Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử mà ngay với Lưu Trọng Lư thì những bài thơ in trong Lỡ bước sang ngang, Mây Tần, Mười hai bến nước... vẫn có gì đó dân dã hơn, nguyên chất nông thôn và xa lạ với văn minh thị thành hơn. Vả chăng, bấy nhiêu chuyện có lẻ vẫn chỉ là phong cách biểu hiện bên ngoài. Đằng sau cái vẻ vừa quê mùa, vừa cổ kính, thơ tình Nguyễn Bính nhiều khi đạt tới các mức gần như trùng khít với tâm tình con người đương đại. Ví dụ, dù là ở nông thôn hay thành thị, dù là người của các thế kỷ trước, hay của thời đại văn minh này, thì khi đã yêu, cũng không ai tỉnh như sáo mãi được. Ngược lại, luôn luôn trong con người ta có những phút vẩn vơ không đâu vào đâu. Những lúc ấy, tôi nghĩ, trong tâm trí người thanh niên hiện nay dễ dàng vang hưởng những câu thơ trong bài Tương Tư. Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông - Một người chín nhớ mười mong một người - Nắng mưa là bệnh của trời - Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng, hoặc bài Nhớ: Ví chăng, nhớ có như tơ nhỉ - Em thử quay xem được mấy vòng - Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ - Em thử nào xem được mấy thưng. Lại ví như khi yêu bao giờ người ta cũng thiên vị tức cũng có xu hướng dành cho người yêu của mình những lời lẽ tốt đẹp nhất. Thành thử, những câu thơ sau đây, mà Nguyễn Bính dùng để tả người con gái, tưởng cũ bao nhiêu, mà vẫn cứ luôn luôn là mới:
Một đi làm nhớ hoa sen
Một cười làm rụng hàng nghìn hoa mai
Hương thơm như thể hoa nhài
Những môi tô đậm làm phai hoa đào
Nõn nà như thể hoa cau
Thân hình yểu điệu ra màu hoa lan.
Hoá ra, trong văn chương thơ phú, những chi tiết đã quan trọng, song cái chính vẫn là hồn cốt của tình cảm con người; khi đã có sự thông cảm rồi, thì mọi xa cách không còn gì đáng quan ngại nữa.
Trên một số tạp chí Pháp, các nhà nghiên cứu vừa đưa ra một vài con số thống kê về tình yêu. Điều thú vị khi tìm hiểu những con số thống kê này, người ta nhận ra rằng ngay ở phương Tây hiện đại, tình yêu vẫn không mất đi hẳn những sắc thái cổ điển của nó. Vẫn còn ít ra là 1% không bao giờ biết đến tình yêu, và nếu chỉ giới hạn ở lứa tuổi 15-19 thôi thì vẫn còn 5% thú nhận rằng mình hoàn toàn trinh trắng (tài liệu của báo Phụ nữ TP. HCM).
Nhắc lại những chuyện này ở đây để thấy số phận kỳ lạ của tình yêu nói chung và thơ tình nói riêng. Để cho công bằng, phải nhận là tình yêu được miêu tả trong thơ Nguyễn Bính có chút gì đó hơi cổ. Nó thiêng liêng quá. Nó cao sang. Nó thuần hậu. Nó luôn luôn giả định một sự chân thành làm tiền đề; chẳng những thế, nó luôn luôn nhằm tới cái đích là sự chung sống trong một gia đình. So với thực tế tình yêu của con người ở những năm cuối của thế kỷ XX, rõ ràng có những khía cạnh nó đã bị vượt qua. Thế thì tại sao thứ thơ ấy vẫn được phổ biến rộng rãi, một sự phổ biến, theo chúng tôi quan sát là chỉ đứng sau Truyện Kiều và các truyện nôm như Nhị Độ Mai, Hoa Tiên ngày xưa? Tôi nghĩ rằng ở đây không gì khác, chỉ chứng tỏ loại đã có mặt. Luôn gắn bó với thời gian, nhưng tình yêu cũng là cái gì muôn đời muôn thuở vẫn vậy. Và nhiều khi càng từng trải, càng chai sạn, người ta càng muốn sống lại sự thành thực sự thiêng liêng hồi nào. Văn chương không phải chỉ có việc gợi lại những gì con người đang có, mà còn là viễn tưởng, là hình bóng của cái gì con người ước ao nhưng lại không có, hoặc từng có nhưng đã đánh mất.


9. Chị ơi! em cưới mùa xuân nhé
(Hay là : Xuân và Tết trong thơ Nguyễn Bính)

1. Số lượng và chất lượng
Thử ghi lại tên một số bài thơ mà Nguyễn Bính đã viết, trong đó có nói đến xuân là tết.
Lỡ bước sang nang: Mưa xuân
Tâm hồn tôi: Xuân về
Một nghìn cửa số: Thơ xuân, Mùa xuân xanh
Mười hai bến nước: Xuân tha hương
Mây tần: Tết của mẹ tôi
Đây nữa, các bài thơ lẻ mới đăng báo mà chưa in vào tập nào: Vườn xuân, Xuân thương nhớ, Tết biên thuỳ.
Tiếp đó, nếu dừng lại kỹ hơn ở các bài thơ khác không thật trực tiếp song vẫn nói đến cùng một đề tài (như Cô lái đò, Quán trọ, Khăn hồng, Vài nét rừng) thì người ta phải công nhận với nhau rằng Nguyễn Bính, trong số các nhà thơ hiện đại, là một trong những người viết nhiều về xuân và tết hơn ai hết.
Nếu lại biết rằng Nguyễn Bính qua đời vào một ngày cuối tháng giêng 1966, tức cuối năm ất Tỵ, trước khi chuyển sang năm Bính Ngọ, thì người ta càng có quyền để cho sự liên tưởng được đẩy đi xa hơn nữa. Giai thoại Nguyễn Bính kể: một người bạn của Nguyễn Bính là Trần Lê Văn cho rằn tác giả Lỡ bước sang ngang đã tiên liệu trước cái chết của mình ngay từ thời viết mấy câu thơ trong bài Nhạc xuân:
Năm mới tháng giêng mùng một tết
Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân.
Chúng ta có thể không hoàn toàn nghĩ như Trần Lê Văn song phải nhận là giữa Nguyễn Bính với cái thời khắc trời đất giao hoà này, đúng là có mối duyên nợ thầm kín nào đó.
2. Mùa xuân và tết đã được Nguyễn Bính miêu tả như thế nào?
ở bài Xuân về, ta bắt gặp: gió, trời trong, nắng, lá non, hoa bưởi, hoa cam, cánh bướm.
ở vài Vườn xuân: gió, bướm, mưa bụi, búp non.
Khi tả tết (như ở các bài Tết của mẹ tôi, Tết biên thuỳ) Nguyễn Bính lại cũng nói đến pháo, hoa, rượu, những nét son trên môi thiếu nữ.
Đại khái, đó là những chi tiết thông thường mà mỗi chúng ta hình dung ra, khi nghe nói đến xuân và tết. Về mặt thi liệu mà xét, chúng không có cái lạ, cái choáng ngợp, của những gì thật mới, thật độc đáo. Chỉ có điều là những chi tiết đơn sơ ấy được Nguyễn Bính thổi vào một sức sống, khiến nó hiện lên thành những bức tranh tự nhiên, đồng thời gợi lên trong lòng người đọc những xúc động mà hầu như ai cũng có, nhưng lại không hay biết.
3. Thế còn ý nghĩa mà mùa xuân và tết để lại trong lòng người?
Bài Thơ xuân nhắc đến đủ loại người, và ở mỗi loại xuân lại có một ý nghĩa riêng.
Với các em nhỏ, xuân là đùa vui nhí nhảnh. Với các cô gái, xuân gợi chuyện ái ân. Với các chàng trai, ngày xuân cũng là những ngày bắt đầu của một mơ ước cao rộng: thi cử, đỗ đạt.
Ngược lại, với các cụ già, xuân là thời gian để chiêm nghiệm việc đời.
Có thể dự đoán một bài như bài thơ Thơ xuân được viết để “góp tên góp tuổi góp chất lượng” cho một số báo tết của một cố nhân nào đó trong làng báo, nên nặng tính cách giao đãi (tất nhiên, giao đãi của Nguyễn Bính, thì cũng đã rất tài). Còn như muốn tìm cái phần thật là chân chất của Nguyễn Bính, cái phần xuân và tết riêng của ông, thì không gì bằng đọc lại những bài như Mưa xuân. Mượn lời tâm sự của một cô gái đi xem chèo không gặp người yêu, bài thơ cô kết lại ở những cảm giác âm thầm và rạo rực mà mùa xuân mang lại trong lòng mỗi người. Đây là thời gian của gieo cấy ấp ủ của tin yêu và chờ đợi. Sau cái mưa bụi kia, trong không khí lành lạnh của những thoáng mùa đông đang còn sót lại, thực ra là bao hy vọng mơ hồ được đánh thức, nó làm cho mỗi con người, nhất là những người tuổi trẻ “ngồi không yên ổn, đứng không vững vàng”, và mặc dù đôi khi dó chỉ là những hy vọng hão, những ước mong không được đáp ứng, song nó vẫn bền chặt trong lòng người, cả đến khi đau đớn, con người ở đây vẫn không nản lòng, vẫn gắng công chờ đợi, vì ngày xuân còn dài, và theo nhịp tháng năm, sau xuân này còn có những xuân khác.
4. Xuân tha hương
Trở lên là những bài thơ xuân Nguyễn Bính đã viết khi mới từ nông thôn lên thành thị, mới bắt đầu cuộc đời của một thi sĩ với bao náo nức.
Chỉ vài năm sau thôi, khi gió bụi kinh thành mang lại cho Nguyễn Bính nhiều chua xót, và những ngày giang hồ đôi khi đồng nghĩa với cuộc lưu đày bất dắc dĩ, thì một mô típ khác bắt đầu xuất hiện: xuân và tết gắn liền nỗi nhớ quên, nhớ những kỷ niệm êm đẹp ngày trước. Giờ đây, nhìn ngày vui của mọi người, chàng thi sĩ chợt nhận ra mình quá đơn độc. Sống giữa cái tết của người ta, chàng mong những cái tết của mình. Và trước khi làm thơ xuân cho người, chàng làm cho mình những vần thơ xuân thật đau đớn, thật tê tái. Đấy là âm hưởng toát ra qua những bài thơ như Xuân tha hương, Quán trọ, Bài hành phương Nam viết sau 1940.
Nếu trước đây, thơ xuân Nguyễn Bính thường nói đến những buổi sáng, thì nay trong thơ xuân của con người ấy có những buổi chiều, những đêm tối.
- Thơ suông rượu nhạt, quán cơm nghèo
Xuân xế mùa xuân, chiều xế chiều
- Đây lời tâm sự cùng ai tỏ
Một lạnh đêm xuân chiếu lạnh giường.
Theo hướng phát triển này, giọng thơ Nguyễn Bính có dịp tự đổi khác khá bất ngờ. Trước đấy, thơ như một thứ quà tặng mà thiên nhiên ban phát cho người nghệ sĩ tài ba, và chàng chỉ việc giơ tay ra là hái ngay được để trao tặng cho đời. Nay ta bắt gặp một sự dụng công hơn và những gì tâm huyết hơn - thơ là sản phẩm của chính con người Nguyễn Bính, kết quả của sự từng trải riêng Nguyễn Bính mới có, thơ như những giọt nước mắt đã cố kìm giữ mà cứ trào ra trên gương mặt phong trần của chàng thi sĩ. Có thể nói, những vần thơ đanh quánh rắn rỏi có hơi hướng thơ biên tái (một dòng trong thơ Đường) này như là trình ra một Nguyễn Bính mới, và cái điều mà Nguyễn Bính vẫn tự hào, là được theo đòi bút nghiên, học chữ Hán từ lúc nhỏ, điều đó đã được chứng thực một cách thuyết phục.
Nhưng có lẽ những bài thơ xuân tha hương buồn bã chỉ có tiếng vang trong lòng một lớp công chúng chật hẹp.
Với đa số bạn đọc, Nguyễn Bính vẫn là tác giả của những câu thơ đắm say tha thiết với mưa xuân, những câu thơ chúng chiều chuộng người ta mơn trớn người ta, và phải nói là khá phù hợp với những ảo tưởng tốt đẹp mà mùa xuân thường gợi ra trong lòng bất cứ ai, kiểu như:
Mùa xuân là cả một mùa xanh
Trời ở trên cao lá ở cành
Lúa ở đồng tôi và lúa ở
Đồng nàng và lúa ở đồng anh.
Hoặc:
Đã thấy xuân về với gió đông
Với trên màu má gái chưa chồng
Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm
Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong.
Người ta biết rằng Nguyễn Bính, con người rất nhạy cảm với phụ nữ, dễ yêu và cũng rất dễ là khổ phụ nữ này, trong đời riêng, khá bất hạnh. Cái hạnh phúc thông thường - một tình yêu trung hậu, kết thúc bằng một cuộc hôn nhân bền chặt - nhiều người bình thường có thể có, song chính Nguyễn Bính lại không có. Có lẽ vì thế người thi sĩ của chúng ta không khỏi có lúc muốn tìm tới trong thơ cái điều không đạt tới trong cuộc đời: trong cơn say sưa đã mấy lần ông gọi mùa xuân là một người con gái, và sẵn sàng đi đến cùng, trong mối quan hệ với người con gái ấy. Nhân trò chuyện với người chị ở xa là chị Trúc, ông cả quyết:
Chị ơi em cưới mùa xuân nhé!
Để rồi một dịp khác ông sẽ diễn tả những luống cuống trong tình yêu và niềm khao khát tận hưởng tình yêu với người con gái - mùa xuân trong những câu thơ thuộc loại hay nhất của mình.
Xuân đến tình tôi náo nức quá
Như người giai tế tối tân hôn
Vì say sưa quá, cho nên đã
Đành đổ trời xuân xuống suối hồn.
SỐ TRUY CẬP online