Cái trẻ của tuổi già

Sự tự phát hiện lại của Nguyễn Khải trong Một thời gió bụi
Cùng với sự chuyển biến của thời cuộc, một trong những cây bút hàng đầu của văn học ta đang chứng tỏ sức sống bằng cách thay đổi. Ngậm ngùi, đau xót ư? Đúng. Nhưng cần thiết - chính tác giả cũng hiểu rằng không còn con đường nào khác!
Đâu là nơi bộc lộ tài năng của người viết văn xuôi? Trong khi không ít người bảo là ở sự tả, thì Nguyễn Khải cho là ở sự kể. Mỗi lần nhà văn trổ tài kể chuyện là một dịp ông đưa ra một câu chuyện sinh động, y như chuyện này là chuyện riêng của gia đình hoặc bạn bè ông, nhân vật là những người quen biết rất lâu của ông. Ông đã sống kỹ với họ, và hiểu rằng chỉ kể về họ thì mới nói lên được một ít lẽ đời.
Đã có một thời, trong giới viết văn, người ta thầm thì với nhau rằng những ai thích đánh đu với Nguyễn Khải thế nào cũng có lúc được ông ấy đưa vào truyện! Câu nói đùa suồng sã chẳng qua chỉ muốn lưu ý là ở Nguyễn Khải, khoảng cách giữa đời thực và trang viết không xa lắm, ngòi bút ông đủ sức tiêu hóa được mọi kinh nghiệm sống hằng ngày.
Về giọng điệu, Nguyễn Khải vốn nổi tiếng với một lối văn nhanh, linh hoạt, nó là bằng chứng của một cách nhìn đời sành sỏi, cái nháy mắt láu lỉnh ẩn hiện sau các trang viết. Từ hồi chuyển qua Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người, ông lại có xu thế sử dụng một lối văn rất gần khẩu ngữ, song lời kể của tác giả và tiếng nói của các nhân vật đan xen, các dòng ý thức - ở dạng sơ khởi - xâm nhập vào nhau, đối thoại với nhau. Niềm khao khát từng ám ảnh Nguyễn Khải - khao khát diễn tả cho được cái ngổn ngang bề bộn của cuộc sống hôm nay - tìm thấy ở lối văn vừa dân gian vừa hiện đại này một trợ thủ đắc lực.
Bấy nhiêu đặc điểm làm nên bút pháp Nguyễn Khải còn thấy rõ trong Một thời gió bụi. Những truyện được viết vào những năm tác giả trên dưới 60 và được in ra vào năm ông 63 tuổi này lại có những sắc thái mới mà người ta chưa bắt gặp bao giờ. Trước mắt chúng ta là một sự thích ứng vừa tự nhiên, vừa khó khăn, đồng thời là một sự phát hiện lại mình, nếu có thể nói như vậy.
Những mặt người khác lạ
Từ những năm 70 về trước, nhắc tới Nguyễn Khải là người ta nhớ tới cả loạt truyện, ở đó, ngự trị một loại nhân vật đặc biệt, những con người vừa khôn ngoan vừa khỏe mạnh, việc đời làm dễ như chẻ tre, lại tỉnh táo biết điều, lý sự thẳng băng, cười giễu ai cũng được, quát thét mắng mỏ ai cũng phải chịu.
Tới đầu những năm 80, cũng là từ cái mốc Gặp gỡ cuối năm - lần đầu tiên loại nhân vật nói trên ở Nguyễn Khải tỏ ra có chút mệt mỏi. Họ thường ngồi một chỗ, nhìn rộng ra chung quanh, suy xét, nghiền ngẫm. Lúc cảm thấy hết nỗi đời lắm vẻ cũng là lúc ở họ bao trùm một cảm giác sảng khoái, tự lấy làm đắc ý, hóa ra, trong sự diễn biến của lịch sử, mình đã chọn được chỗ đứng thích hợp, đã có những cống hiến không ai có thể xem thường, còn thôi từ nay về sau, việc đời là của các thế hệ kế tiếp (Lối nghĩ đó còn thấy thấp thoáng trong hình ảnh ông Ba Quốc Hội, nhân vật chính của Hai ông già ở Đồng Tháp Mười, thiên truyện viết từ 1982, song tác giả vẫn gạn lấy rồi xếp vào giữa cuốn sách Một thời gió bụi).
Nhắc lại những chuyện trên để thấy đến Một thời gió bụi, ngòi bút Nguyễn Khải đã có những bước thay đổi không ai tin nổi. Xưa kia loại người vụng dại, thất thế, do không may mà lệch bước, tự biết có lỗi lầm mà không sao nhúc nhích thay đổi được chính mình, loại nhân vật ấy thường chỉ được tác giả mang ra đùa cợt, và khá lắm thì đóng vai trò phụ trợ, chứ làm sao mà ngồi ngay chiếu giữa trong sách của Nguyễn Khải. Nay thì ngay thiên truyện mở đầu của Một thời gió bụi đã mang tên Anh hùng bĩ vận, và trong hàng loạt truyện tiếp theo, cái chất bĩ ấy còn được khai thác đến cùng: ở truyện này, một ông già tử tế, nhân hậu bị những người thân đành hanh, hãnh tiến ruồng bỏ (Chuyện tình của mỗi người); ở truyện kia, người chủ gia đình vốn quen lối sống phải chăng mang màu sắc công chức bị vợ con "vật ra" mà nhiếc móc ngay giữa bữa cơm khách (Đổi đời). Vả chăng, vấn đề không phải chỉ là mối quan hệ với hoàn cảnh chung quanh, vấn đề cuối cùng ở đây là nhiều nhân vật của Nguyễn Khải mất hết lòng tự tin cuồng nhiệt vốn có, bỗng dưng cảm thấy mình lạc lõng ngay giữa môi trường quen thuộc, "như người vừa ở tù ra" (trang 185). Đụng vào việc gì cũng hỏng, nói ra điều gì cũng thấy ngớ ngẩn không hợp, họ biết ngay là mình đã hết thời. Với họ, giờ đây, sống tức là nhẫn nhục cam chịu, dù có "chết ngay từ lúc đang sống" (tr 200) thì cũng không được buồn nản!
Nói rằng như vậy, diện nhân vật của Nguyễn Khải được mở rộng, e quá ư đơn giản. Trong việc kể lại cuộc đời những người già yếu, cũ kĩ, bị hoàn cảnh gạt sang một bên, rõ ràng ngòi bút chỉ biết sát sao riết róng của Nguyễn Khải hôm qua đã trở nên khá chừng mực, thuần hậu, cận nhân tình. Và cận nhân tình hơn cả là những truyện ở đó tác giả kể về những người vì tốt quá, biết điều và tự trọng quá, nên khổ (Cặp vợ chồng ở chân động Từ Thức, Năm tháng đã qua đi). Những kiếp sống như cây cỏ lam lũ qua ngày mà vẫn không làm sao thoát khỏi đủ thứ tai vạ rình rập (Đời khổ). ở chỗ này, ngòi bút Nguyễn Khải thường khi gợi ta liên tưởng đến những bậc thầy truyện ngắn trong quá khứ. Ta dễ dàng nhớ tới Hồ Dzếnh với việc lặng lẽ chiêm nghiệm lẽ đời ngay từ cuộc sống những người thân chung quanh. Nhất là nhớ tới Thạch Lam, và phần nào đó, G. de Maupassant, với lối kể chuyện cô gọn, có vẻ như dửng dưng - cốt để làm nổi tính chất định mệnh - song nhiều khi chỉ qua một hai câu bâng quơ đã đủ thấm thía một nỗi xót xa thông cảm với những con người "thấp cổ bé họng" (giữa nhân vật chị Vách và mẹ Lê của Thạch Lam không khỏi có nhiều nét gần gũi). Cuộc sống bao giờ cũng đủ thứ sắc thái khác nhau và văn học có quyền khai thác bất kỳ loại tính cách nào cũng được. Song, những tác phẩm nghiêng hẳn sang phía thông cảm với những bất lực yếu đuối của con người, thường vẫn dễ ở lại trong tâm trí ta hơn, ta cảm thấy nó đang đi về hướng nhân bản.

Một thế giới khác
Theo cách diễn giải của Nguyễn Khải, sở dĩ một nhân vật như Tú (trong Đổi đời) và nói chung nhiều nhân vật khác của ông lúng túng, lạc lõng, lý do là vì đã bị "mất phương hướng trước những biến đổi tự phát của thời cuộc" (tr33).
Có lẽ đã được viết ra theo lối bột phát song nhận xét ấy lại bộc lộ cho thấy, trong thâm tâm Nguyễn Khải, chừng mực nào đó, cả ý niệm về hiện thực cũng đã thay đổi.
Công bằng mà nói, so với các tác giả khác, thì ở một số tác phẩm trước đây, thế giới trong Nguyễn Khải đã lắm vẻ phức tạp. Nhưng suy xét kĩ thấy đấy là một sự phức tạp rất... đơn giản. Nói thế giới lúc ấy vẫn có cả bóng đêm và ánh sáng chẳng qua là một cách nói ước lệ, nói cho sang, thực ra bấy giờ lúc nào nó cũng chan hòa ánh sáng, mọi việc rành rẽ dứt khoát, thiện ác, tốt xấu phân tuyến rõ ràng, còn con người thì phần lớn như những vị thánh, chỉ chăm lo có mỗi một việc là biến cải thế giới chung quanh theo niềm tin của mình. Nay, với các nhân vật, và với chính Nguyễn Khải nữa, đất dưới chân lay chuyển. Đồng tiền ngự trị. Thói vụ lợi tha hồ hoành hành. Mọi con người như tự khác mình đi "người ngợm, nghề nghiệp lẫn lộn lung tung cả" (tr208). Nhưng điều đáng sợ nhất chưa phải ở đấy! Đáng sợ nhất là thế giới ấy chập chờn ẩn hiện, ta rất dễ nghĩ sai về nó. Một dự đoán vừa rất có lý - như linh tính của tác giả về nhân vật Khôi trong Người của làng pháo - vài ba ngày sau đã hóa ra một nhận xét nông cạn lỗi thời. Một niềm tin sâu xa từng theo sát người ta trong cả cuộc đời - như niềm tin của nhân vật chính trong truyện ngắn Một thời gió bụi, và vẻ êm đềm thơ mộng của quê hương, và khả năng bao dung che chở của một nông thôn ngàn năm náu mình trong im lặng - phút chốc biến thành ngớ ngẩn giả dối. Vùng nông thôn ấy, cũng như cả thế giới trong Nguyễn Khải vùn vụt biến cải, chỉ có điều khác: xưa nó vận động theo cái hướng người ta đã định trước cho nó; còn nay nó diễn biến thế nào thì lại nằm ngoài lối suy nghĩ thông thường, cũng tức là nằm ngoài sự kiểm soát vốn được tiếng là khôn ngoan của lớp cán bộ như tác giả.

Cái trẻ của tuổi già
Một điều tự nhiên ai cũng biết là các nhà văn, cũng như người thường, không dễ từ giã chính mình. Qua Một thời gió bụi, ta thấy Nguyễn Khải cũng vậy. Trong những nhận xét sắc sảo thật ra vẫn chưa hết hẳn cái lanh chanh khoe khôn cũng như trong giọng kể, không khỏi có những thoáng hờn dỗi, mình khôn ngoan như thế này, biết điều như thế này, cúc cung tận tụy như thế này, mà khổ, mà lạc lõng, thì ra chung quanh nhầm rồi, đời không có mắt rồi, thật tội nghiệp quá!
May thay, những âm hưởng đó, chỉ là âm hưởng phụ. Cảm hứng chủ đạo chi phối Một thời gió bụi vẫn là cảm hứng rằng dẫu sao cũng phải nhìn thẳng vào sự thực, đúng như lời tác giả tự dặn ở cuối cái truyện ngắn tự thú mang tên Anh hùng bĩ vận "Hãy cười lên để tiễn biệt một thời vừa tới, cho dầu cái thời đang tới ấy không phải là thời của mình" (tr 22).
Từ góc độ bản thân tác giả mà xét như vậy là ông chấp nhận sự bất lực, sự lạc lõng, tóm lại là ông đã già? Cái đó có. Nhưng hãy trở lại với cái cuộc đời mà ông luôn luôn miêu tả với tình cảm nước đôi vừa cười cợt vừa bực bội. Liệu có phải là nó đang hư hỏng đi không? Không! Chính là tác giả cũng nói: không. Tuy khó chịu với nó, nhiều lúc công khai lên án vẻ tàn bạo của nó, song, với tư cách nhà văn, ông vẫn phải công nhận là nó có gì đó thiết thực hơn, hợp lý hơn cái mô hình mà xưa nay ông theo đuổi. Và điều quan trọng nhất tương lai thuộc về nó - tác giả chua chát thừa nhận, một sự thừa nhận tố cáo thế yếu của một con người song lại phát lộ chỗ mạnh thực sự của một ngòi bút. Rút cục lại, nhìn kĩ vào thế giới hiện diện trong văn Nguyễn Khải hôm nay cùng con mắt nhìn đời mà tác giả cho là phải có, thì lại có thể nói ngòi bút Nguyễn Khải, trong Một thời gió bụi, vẫn có cái phía nào đó khá chắc khỏe, do đó cũng là trẻ nữa. Bởi lẽ, đây là cái trẻ của một người dù đã bước sang tuổi già vẫn gắng sức cưỡng lại cái quán tính bảo thủ nằm sẵn trong chính mình, tỉnh táo nhìn ra hướng phát triển của hiện thực, một cái trẻ trong nhận thức - chứ không phải trong cảm tính, lại càng không phải trong cơ bắp thuần túy - nên vẫn có thể bảo đó là một vẻ trẻ trung thực thụ, mà người ta, dù ở lứa tuổi nào, cũng cảm thấy gần gũi.

XuânQuỳnh- Những buồn vui của kiếp hoa dại

XuânQuỳnh- Những buồn vui của kiếp hoa dại
Vài nét tiểu sử
Xuân Quỳnh (1942-1988), tác phẩm chính: Hoa dọc chiến hào (1968), Gió Lào cát trắng (1973), Tự hát (1984), Hoa cỏ may (in sau khi tác giả qua đời - 1989).

Đến tận cùng đau đớn, đến tình yêu - Thơ tình cho bạn trẻ
Khi nghe ca sĩ Thúy Mị hát bài Đợi, có lẽ bạn nghe đài cũng như bạn đọc nói chung nhiều người không để ý rằng trong việc phổ thơ Vũ Quần Phương, nhạc sĩ Huy Thục đã làm một việc đảo lộn nho nhỏ. Nguyên văn câu thơ đầu tiên trong bài của Vũ Quần Phương Anh đứng trên cầu đợi em. Bài thơ nói cái cảnh người đàn ông đợi người đàn bà. Còn bản nhạc Đợi của Huy Thục thì diễn tả một tình thế ngược lại: Người phụ nữ tới trước và đợi người yêu của mình. Cả bài ca là tiếng lòng tha thiết của chị khi chủ động làm công việc chờ đợi đó.
Người viết bài này chưa có dịp gặp Huy Thục để hỏi nhạc sĩ tại sao đổi vậy. Nhưng khách quan mà xét, thì việc đảo lộn ấy là rất hợp quy luật.
Không hẹn mà nên, trong ca dao dân ca, trong chèo, trong truyện cổ tích, khi cần diễn tả tình yêu, các tác giả vô danh và khuyết danh Việt Nam có thói quen để cho phụ nữ đóng vai trò chủ động. Họ thường yêu sâu sắc hơn nam giới. Họ không ngại mang tiếng là yêu trước và sau đó lại chung thủy đến cùng, kể cả vì thế mà bị lừa lọc phản bội, rồi thân tàn ma dại và suốt đời mang tiếng là khờ khạo, nhẹ dạ. Xúy Vân trong vở chèo cùng tên đã đứng cao hơn Trần Phương, như Kiều có chút gì đó hết mình hơn, người hơn, mà lại trong sạch hơn, bên cạnh Kim Trọng. Sang thời hiện đại, một Tố Tâm "bít khăn tua đen", "đầu ngôi rẽ giữa", "tóc vuốt sáp", cũng là nhiều lần cao đẹp hơn trong tình yêu, so với nhân vật xưng tôi trong thiên truyện của Hoàng Ngọc Phách: Tố Tâm vừa say đắm hơn, vừa rộng lượng hơn bên người học trò Đạm Thủy một mực tuân thủ lễ giáo, lúc nào cũng ra vẻ long trọng, song thực ra lại nhút nhát. Chẳng trách mà ngày nào Hồ Xuân Hương đã tai quái ném ra cái hình ảnh Bố cu lỏm ngỏm bò trên bụng. Đằng sau cái tư thế cụ thể tức cười, câu thơ phác ra một điều khái quát, nó là một sự thật càng sống càng thấy đúng: đó là vẻ cao quý của một người phụ nữ Việt Nam, cao quý ngay trong sự chủ động Đợi mà Huy Thục hôm nay chạm tới.
Không biết có nên gọi là truyền thống không, nhưng đấy thật là nét lạ của phụ nữ Việt Nam và hôm nay nó cũng đang được các thế hệ phụ nữ ta chứng minh. Một trong những trường hợp đó là nhà

Thơ Xuân Quỳnh.Niềm khao khát khôn nguôi
Cũng như các diễn viên ca, múa và những chị em làm nghệ thuật khác, một phụ nữ làm thơ viết truyện ở nước ta dễ chuốc lấy nhiều thành kiến không đâu. Ngoài việc có hai đời chồng, ở Xuân Quỳnh lại còn kèm thêm những vụ tai tiếng trong tình yêu mà trong giới gần như không ai không biết. Nên chi có thể nhiều người bỡ ngỡ không tin khi nghe nói Xuân Quỳnh là một con người hết sức tha thiết với hạnh phúc gia đình. Nhưng sự thật là vậy. Lớn lên trong cảnh mồ côi mẹ (Em đánh chắt chơi chuyền từ nhỏ - Hái rau dền rau rệu nấu canh - Tập vá may tết tóc một mình - Rồi úp mặt lên bàn tay khóc mẹ), suốt đời người con gái này khao khát một nơi nương tựa, tức một gia đình hạnh phúc. Không bao giờ chị yêu một cách đùa cợt. Yêu ai là tính chuyện sống hẳn với người đó. Với bàn tay thô vụng, bàn tay "mó tới đâu là đổ vỡ", bàn tay "khi nói chuyện với ai,... thấy tay thừa không biết giấu vào đâu", chị chăm chỉ lo mọi việc nhà và không thể làm gì, kể cả đọc sách làm thơ, nếu chưa lo được cho chồng con bữa ăn ngon, bộ quần áo sạch. Vốn có nhiều kinh nghiệm về quyền lực của nhan sắc nhưng nhân nói về thơ, có lần chị vẫn cả quyết: "Thơ đối với cuộc sống ví như một người con gái đối với gia đình. Cái để cho người ta làm quen với nhau là nhan sắc, nhưng cái để sống với nhau lâu dài lại là đức hạnh". Cùng với tuổi tác, mỗi ngày Xuân Quỳnh mỗi thấy cái đức hạnh ấy là lẽ sống của mình. Tiếp nối những bài thơ khao khát tình yêu lúc trẻ, những bài thơ chị làm mấy năm cuối đời thường đầm ấm một tình yêu gia đình, yêu chồng yêu con, nhiều bài thơ thiết tha như lời tự nhủ rằng có lẽ trong hoàn cảnh nước mình, được như thế này đã có thể gọi là hạnh phúc. Tuy mỗi thời cái hạnh phúc ấy có một khuôn mặt riêng, song bao giờ chị cũng run rẩy khi được biết mình đang có nó, đang được sống với nó. Và càng mong manh dễ vỡ, với chị, nó lại càng đáng quý.

Lầm lẫn nhưng không man trá
Có một mô-típ thơ thường hay trở đi trở lại trong thơ Xuân Quỳnh là cỏ dại, hoa dại, với tất cả những cay đắng thua thiệt mà loài hoa này phải chịu.
Anh đừng hỏi tên hoa làm chi nữa
Những hoa này chỉ hoa dại mà thôi
Không phải hoa được ở cùng người
Được chăm sóc trong mảnh vườn sạch cỏ
Được khoe đến muôn màu sắc lạ
Và được đời chiêm ngưỡng mùi hương
Không phải hoa được cắm trên bàn
Trong ngày hội của những niềm vui mới
Những hoa này lại nở cho triền núi
Lại nở cho vẻ đẹp của rừng chung
Nên ít ai để ý sắc từng bông
Chỉ thấy núi muôn màu rực rỡ
Đôi khi giẫm lên hoa mà chẳng nhớ

Có thể chỉ là trong tiềm thức, nhưng hình như nhà thơ thầm cảm thấy hoa dại, cỏ dại là ứng với mình. Tại sao? Không phải cứ khao khát là người ta đã có được hạnh phúc. Cũng như phần lớn chúng ta, trên đường truy tìm hạnh phúc, không biết bao lần trong cuộc đời, con người thông minh và cực kỳ nhạy cảm này đã lầm lẫn, đã là nạn nhân của những ảo tưởng về mình và về người. Cái khỏe của Xuân Quỳnh là đã vượt qua được những đau khổ để tiếp tục sống. Nhưng dầu sao, tận đáy lòng chị vẫn thấy có chút gì xót xa tội nghiệp cho mình: giá có ai bảo mình, giá mình biết sống hơn... Trong hình ảnh hoa dại, nhà thơ không chỉ tìm thấy niềm an ủi, ở đó còn bao hàm cả lời thú nhận về sự bất lực của bản thân, cả nỗi hờn tủi, oán trách.
Có một điều cũng phải nói ngay là mặc dù qua nhiều lầm lẫn, nhưng Xuân Quỳnh thường có cách ứng xử khác hẳn những kẻ tầm thường: chị không man trá. Khi nhận ra lầm lẫn, chị sẵn sàng làm lại tất cả. Chị ghê sợ những gì giả tạo. ở đây không chỉ có sự thành thực mà còn có một chút gì như sự sòng phẳng, mà trước khi cần cho mọi người, đã là cần cho chính chị. Trong khi làm khổ Xuân Quỳnh không biết bao nhiêu mà kể, sự thành thực này tựu trung chỉ cứu chị, giúp ích chị trong một việc: làm thơ. Càng đau khổ, càng muốn tìm đến thơ để tự giải thoát. Tự trong thâm tâm chị hiểu rằng nếu cuộc sống là cái gì quan trọng nhất với mình thì thơ lại là cách duy nhất để mang lại cho cuộc sống đó một hình thức bất tử.

Bị tình yêu hành hạ
Sinh thời, khi trò chuyện với bạn bè, Xuân Quỳnh thích nhắc lại một câu nói của Tolstoi, đại ý cho rằng người ta sẽ có sức mạnh vô cùng vô tận nếu có tình yêu; tình yêu làm nên tất cả. Nếu có một thứ tôn giáo tình yêu thì chị chính là một trong những tín đồ ngoan đạo nhất. Tình yêu quả thật đã giải phóng ở chị những sức lực không ngờ trong cuộc sống, làm việc và gây dựng gia đình. Và chị tưởng rằng với tình yêu, mình có thể làm được tất cả, biến kẻ xấu thành người tốt, gã đàn ông ích kỷ thành người chồng hết lòng với vợ con; thậm chí tình yêu vượt luôn được cả những cách xa về thời gian tuổi tác để đưa bất kỳ lứa đôi nào trở thành những cặp vợ chồng mẫu mực.
Chỉ cần có một chút kinh nghiệm thôi, người ta sẽ nhận ra ngay rằng niềm tin ấy của Xuân Quỳnh là ảo tưởng. Là yếu tố thiết yếu để tạo nên hạnh phúc nhưng tự nó, tình yêu chưa phải là hạnh phúc. Vả chăng, nói gì thì nói, sức mạnh của tình yêu cũng chỉ có giới hạn, nhất là khi nó chưa phải là sự hòa hợp của hai tâm hồn mà mới là tình yêu một phía của người đàn bà với người đàn ông. Giá có dịp đứng ngoài mà nhìn, Xuân Quỳnh sẽ công bằng mà nhận rằng trong khi chỉ mang lại một ít niềm vui thì ảo tưởng kia đã là nguồn gốc gây nên mọi bất hạnh nơi chị. Đồng thời với việc bòn rút tâm lực, nó còn làm biến dạng cả chính chị nữa. Con người rất sợ những gì dối trá giả tạo có lúc đã phải đóng vai hạnh phúc. Chót kiêu căng quá tin vào sức mạnh của chính mình, chị không còn dám chia sẻ về nỗi đau khổ với bất cứ ai. Cái giá phải trả quả thật quá lớn!
Nhưng nếu được cãi lại, thì Xuân Quỳnh không ngần ngại mà nói rằng "Với tôi, niềm tin ấy chính là số phận". Khi đã thành lời nguyền, dù nặng nề biết bao nhiêu, chị vẫn tự nguyện mang nó. Và như sau này ta thấy, chị đã mang nó cho tới lúc chết. Hình ảnh cả đời Xuân Quỳnh rút lại là hình ảnh một con người sống bằng tình yêu, làm thơ nhờ tình yêu, sung sướng vô cùng trong tình yêu và cũng bị tình yêu hành hạ đến cùng cực.
- Tôi có một tình yêu rất sâu
Rất dữ dội nhưng không bao giờ yêu được hết
ở các cô, các cô âm thầm chịu đựng
Cho đến ngày tình yêu ấy tắt đi
Còn ở tôi, tôi mang nó nặng nề
Muốn nguôi quên, nó lại ngày càng lớn
Luôn xáo động tôi không sao ngủ được
Không làm sao có thể ngồi nguyên
....
Ôi con trai thật là kỳ lạ
Tôi yêu tất cả mọi người mà chẳng yêu được
riêng ai
Không sĩ diện đâu, nếu tôi yêu được một người
Tôi sẽ yêu anh ta hơn anh ta yêu tôi nhiều lắm
Tôi yêu anh dẫu ngàn lần cay đắng
Những câu thơ ấy là lời thú nhận của Xuân Quỳnh nhưng cũng là lời thú nhận của bao thế hệ phụ nữ từ Xúy Vân, Kiều, Tố Tâm đến cô gái trong bài hát Đợi, cô gái trong bài hát Sợi nhớ sợi thương ("Nghiêng sườn đông mà che cho anh -... Mà em nghiêng hết về phương anh"). Chỉ những người phụ nữ say đắm, tự tin, những người hồn nhiên nhận lấy sự ràng buộc của số phận mới có cách cư xử cao thượng như vậy. Trong khi thông cảm với những đau đớn đến xé ruột xé lòng họ từng phải gánh chịu, đồng thời chúng ta cũng hiểu rằng trước tiên họ đáng kính trọng.

Nguyễn Du như một thi sĩ

15.3.2005

Lý do để sống

“Trong tư thế xếp bằng trên chiếu trải giữa nền đất, ông ngồi trước một ấm nước chè xanh và một ngọn đèn vặn nhỏ bằng hạt đậu. Lúc này ông không hề để mắt ngó qua đến sách vở, cũng chả hút thuốc vặt, mà chỉ so vai lại, thu cả hai bàn tay vào lòng như một người suốt cả đời luôn cảm thấy rét, hai con mắt lim dim nhìn xuống chiếu đang nghĩ.“

Mở đầu một bài viết về Nam Cao, Nguyễn Minh Châu từng vẽ ra hình ảnh tác giả Chí Phèo như vậy. Đoạn văn thật đã bắt trúng cái thần của con người, và giúp người ta hình dung cách làm việc kiểu tư duy nghệ thuật của Nam Cao.

Nhưng tôi ngờ rằng, trước Nam Cao khá lâu - tính ra có đến già một thế kỷ -, có một người nữa còn thích hợp hơn với cái cảnh ngồi giữa màn đêm, nghĩ ngợi sự đời, người đó là Nguyễn Du.

Dù là lúc sống thanh bần giữa mảnh đất Nghi Xuân quê hương, hay khi chạy loạn dạt xuống Thái Bình; khi làm chức quan cai bạ ở Quảng Bình, hay khi giữa đường đi sứ, dừng lại ở những Hồ Nam, Hàng Châu, An Huy, Sơn Đông… xa lạ mấy đi nữa, thì ông vẫn thường một mình một bóng như vậy. Và cái tư thế ngồi nghĩ trong đêm đó gợi cho chúng ta thấy hình ảnh một loại nghệ sĩ xưa nay hiếm, song lại đáng được coi là cái phần tự hào của nền văn học dân tộc.

Do sống trong một đất nước có lắm gian nan nên phần lớn người nghệ sĩ trong xã hội Việt Nam trước tiên là những người hành động. Chẳng phải đến nửa cuối thế kỷ XX, với tư cách là những công dân tham gia hai cuộc chiến tranh liên tiếp, các văn thi sĩ mới tự nguyện sống theo cái tâm niệm “Thà một cây chông trừ giặc Mỹ - Hơn ngàn trang sách luận văn chương”. Mà ngay trong các thế kỷ trước, con người hành động cũng chiếm một phần lớn trong số những người làm thơ có tên trong lịch sử. Nguyễn Trãi tồn tại trước hết như một người tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, sau đó là một quan chức trong vương triều Lê. Không kể cái tên Quân trung từ mệnh tập đã nói rõ ý nghĩa những bài văn của ông, mà ngay những nét tâm tình bộc lộ trong thơ, xa gần cũng có liên quan đến trách nhiệm công dân mà ông tự nguyện đảm nhận. Nguyễn Công Trứ mải miết làm bằng được các công việc được Minh Mạng, Thiệu Trị giao phó. Nguyễn Đình Chiểu sử dụng thơ văn để dạy đạo đức cho mọi người mà cũng là kêu gọi mọi người cầm gươm đánh giặc. Đặt bên cạnh những tiếng nói sôi nổi đó thì Nguyễn Du có vẻ hơi “lạc đội hình”: Là con người của những suy tư, ông mải nghĩ hơn mải sống, đúng hơn với ông, nghĩ là hình thức tốt đẹp nhất của sự sống. Nghĩ bằng thơ, cố nhiên. Một câu thơ có vẻ bâng quơ khi tả hoa sen: Hoa để tặng người mình sợ (Hoa dĩ tặng sở uý) cứ buộc phải nhớ, bởi có cái gì đó vượt ra ngoài lối thơ đèm đẹp thông thường để hứa hẹn với người ta rằng ở đây sẽ có những suy nghĩ thâm trầm về sự đời.

Khi đã như vậy, chỉ có thơ mang lại cho ông niềm vui và ý muốn làm việc, nó cũng là lý do để ông sống trên đời này. Không thấy nói trong khi làm quan ông có được chính tích gì đáng kể. Có vẻ như ông là một vị quan khá xoàng. Ngoài thơ, gần như ông chỉ còn là con người thừa, con người vô dụng.


Cuộc tìm tòi của chính mình và về chính mình

Tâm lý ổn định vốn là một đặc điểm thường thấy ở những con người hành động. Chẳng hạn như Nguyễn Trãi. Lý tưởng ở ông rõ ràng. Niềm tin của ông mạnh mẽ. Nhiều bài thơ của ông có cái tên ngôn chí. Mà chí với người xưa không chỉ đơn giản là lòng quyết tâm, ý muốn thực hiện bằng được một việc gì đó, như ngày nay chúng ta vẫn hiểu. Trong phạm vi đạo Nho, thực ra nó có một nghĩa cụ thể: khao khát muốn làm cái gì đó cho đời và nhất là sống đúng theo những chỉ dẫn của thánh hiền. Trước khi là nhà thơ, người xưa vốn không quên mình là nhà Nho, và trước khi hành động, họ được giáo dục theo một lý tưởng chặt chẽ.

Bản thân Nguyễn Du từng biết đến cái thứ chí đó. Tráng sĩ đầu bạc bùi ngùi ngẩng nhìn trời hùng tâm sinh kế mờ mịt cả hai (Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên – Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên) [1] . Cái hùng tâm theo nghĩa cổ điển đã từng là một trong hai mối quan tâm lớn của đời ông. Thế nhưng nhìn chung đời Nguyễn Du thì thấy ngay thực tế là cái tráng khí đó ngày càng phai nhạt và một trong những đặc điểm làm nên chỗ khác của cả tập thơ chữ Hán của ông so với các nhà nho chính hiệu: ở đây không có bài nào được gọi là ngôn chí cả. Ông vẫn mê mải đọc sách, đọc bất cứ lúc nào có thể được:

Ở chốn tha hương thường soi gương xem vẻ mặt
Thì giờ đi trên đường gió bụi, một nửa là đọc sách
(Tha hương nhan trạng tần khai kính
Khách lộ trần ai bán độc thư)

Song cái nghĩa quân thân mà những người như Nguyễn Trãi tự nguyện mang nặng trên vai, ông không san sẻ. Tự ông trút nó đi tự lúc nào, trút đi để chuốc lấy những băn khoăn lớn hơn nặng nề hơn và khó xác định hơn - băn khoăn sống sao cho ra một con người.

Cảm động thay lúc cùng đường vẫn được trăng đến thăm
(Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến)

Tóc bạc rồi dù có hùng tâm cũng ngồi than thở suông mà thôi
(Bạch phát hùng tâm không đốt ta)

Ngọn cỏ bồng lìa gốc trước luồng gió tây thổi mạnh
Không biết cuối cùng sẽ bay đến nơi đâu
(Đoạn bồng nhất phiến tây phong cấp
Tất cánh phiêu lưu hà xứ quy)

Những câu thơ trên đều trích trong Thanh Hiên thi tập. Từ những bài thơ làm trong mười năm gió bụi này, người ta đã thấy cảm giác bao trùm trong Nguyễn Du là bất lực và vô vọng. Trong khi các nhà thơ chủ trương thi ngôn chí cùng là văn dĩ tải đạo thường khuyên con người ta phải sống như thế này, phải cảm nhận đời sống theo kiểu kia - và sản phẩm thơ ở đây giống như những câu trả lời - thì Nguyễn Du hầu như triền miên sống trong băn khoăn; ông không tìm ra ý nghĩa cuộc đời. Từ đấy, động cơ chi phối thơ ông về sau sẽ là cuộc tìm tòi của chính mình và về chính mình. Thơ nhiều khi hiện ra như những lời cật vấn, những câu hỏi siêu hình, trừu tượng, nó làm cho những gì ông viết ra có cái giọng khác đời, còn ông thì đạt tới tầm vóc của một kẻ sống hết tầm người, sống để đối diện với những vấn đề của cả nhân loại.

Và, trong thâm tâm, Nguyễn Du biết điều đó.

Không biết hơn ba trăm năm sau
Thiên hạ ai người khóc Tố Như
(Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như)

Mấy câu thơ ấy thuộc loại được nhắc nhở nhiều nhất mỗi khi nói tới Nguyễn Du. Nhiều người chỉ thấy đấy là lúc ông thương cảm cho số phận của mình. Nhưng tôi tưởng ở đây còn có một cái gì khác, một niềm riêng tây nằm ở mãi trong tiềm thức nhà thơ. Trước một tài năng bị nhiều thiệt thòi (phần lớn thơ Tiểu Thanh đã bị đốt) ông hình dung ngay ra tương lai của mình và chỉ nói tới tiếng khóc. Nhưng đằng sau chữ khóc ở đây phải chăng còn có chữ biết? Bởi người ta chỉ khóc về những người mà người ta biết và cảm phục. Thành thử, có thể chính Nguyễn Du chưa cảm nhận đầy đủ, song ở ông đã ẩn sẵn cái ý thức sâu xa về sự có mặt của mình trong tương lai, một cách “ở lại với lịch sử”. Trong một hoàn cảnh mà xã hội cứ muốn kéo người ta xuống – chế độ phong kiến vốn nổi tiếng với những ràng buộc kiểu đó, trước hết là ràng buộc về tư tưởng –, có thể nói đây là một sự vượt ngoài thông lệ.


Từ lối gián cách cần thiết tới một sự giải phóng

Một phần đáng kể thơ chữ Hán của Nguyễn Du là thơ đi sứ. Đi sứ thời tác giả Truyện Kiều sống là gì? Là rơi vào đơn độc, là xa gia đình và môi trường quen thuộc hàng năm liền, là cắt đứt mọị giao thiệp cảm tính hàng ngày để phải đóng vai người đại diện cho đất nước ở một xứ sở xa lạ… Có nhớ lại hoàn cảnh địa lý và phương tiện đi lại, nhớ lại tình trạng tâm lý phổ biến của con người hai trăm năm trước, mới hiểu tại sao với người xưa, việc đi sứ lại trở nên đáng sợ như vậy. Nhưng với những con người đã tự khẳng định thì đây lại là một cơ hội tốt. Cơ hội dứt bỏ cái mè nheo phiền phức hàng ngày. Cơ hội lùi ra xa để nhìn mọi chuyện. Cơ hội vượt lên cái đời sống trần trần ai cũng thấy, để sống với một đời sống bao quát hơn mà cũng là tinh tuý hơn.

Nguyễn Du chính là một người khai thác những cuộc đi sứ theo ý nghĩa ấy và đây là điều bộc lộ khá rõ trong thơ đến mức không giấu được ai. Ngay từ lần xuất bản đầu tiên 1958, những người chuẩn bị cho việc in thơ chữ Hán Nguyễn Du là Bùi Kỷ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh đã nhận xét: khi ở trong nước, “Nguyễn Du thường than thở là tiếu đề tuẫn tục nghĩa là phải chiều theo đời cả tiếng cười tiếng khóc cũng không được tự do, nhưng lúc này là lúc ở nước ngoài, cười tha hồ cười, khóc tha hồ khóc, Nguyễn Du muốn nói ra cho sướng miệng hả lòng cho nên văn khí trong phần này xem ra khảng khái hùng tráng” [2] . Nguyễn Lộc trong Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX cũng cho rằng trong lúc đi sứ, nhà thơ mới “có thể nói điều mình muốn nói” [3] . Quả thật trong việc đi sứ - để dùng lại thuật ngữ của khoa nghiên cứu văn học ngày nay -Nguyễn Du có dịp sử dụng sự gián cách để lạ hoá đời sống. Những tiềm năng trong ông được đánh thức. Những ràng buộc quen thuộc bị gạt bỏ, ông như tìm tới một bậc tự do mới cho sự suy nghĩ của mình. Người nghệ sĩ trong ông vượt lên tưởng như không bị một giới hạn nào ngăn cản. Hai chữ cổ kim vốn đã xuất hiện trong Nam trung tạp ngâm giờ đây lại luôn luôn thấy lặp lại trong Bắc hành tạp lục. Chưa bao giờ trong thơ Việt Nam – tôi muốn nói cả thơ hiện đại – có một hồn thơ đi xa rộng trong không gian thời gian như Nguyễn Du. Giá như được sống trong thế giới hôm nay, ông sẽ thích cái lý luận về thời gian lớn của nhà triết học Nga M. M. Bakhtin.

Đi cụ thể hơn vào cuộc Bắc hành của người từng viết Kiều. Trong khi thơ đi sứ của nhiều người khác chỉ tồn tại trong hình thức thù tạc tầm thường hoặc những cuộc đấu trí mang tính cách giai thoại, hoặc cùng lắm là những bài thơ sụt sịt nhớ vợ nhớ con và mong sớm gặp lại gia đình - thì với Nguyễn Du, tình hình có phần ngược lại. Ông sống với con người và cảnh vật xứ người một cách hết lòng, không chỉ suy nghĩ về hiện tại mà còn thường xuyên trở lại với quá khứ; không chỉ xót xa với hoàn cảnh khốn khổ của những người dân thường như ông già hát rong ở Thái Bình, hoặc bốn mẹ con một người hành khất (là những bài thơ lâu nay được các nhà nghiên cứu dành cho quá nhiều sự ưu ái), mà còn đặt mình vào tình thế của những nhân vật kỳ vĩ, hội tụ các vấn đề lớn của đời sống, như Khuất Nguyên, Kinh Kha, Tô Tần, Nhạc Phi, Tần Cối… để nghĩ về những vấn đề khá trừu tượng. Một đặc điểm của lịch sử Trung Hoa là ở đó có nhiều nhân vật đa dạng. Tôi trung vua hiền có, mà kẻ gian giảo xảo quyệt cũng rất nhiều, cái gì ở đây dường như cũng cực đoan cũng quá đáng. Lịch sử lại sớm được ghi chép thành những khuôn mẫu, đồng thời mở ngỏ khả năng để người đời sau đánh giá lại. Như nhiều nhà Nho Việt Nam, Nguyễn Du sớm được tiếp xúc các mẫu người đã ổn định đó qua sách vở. Ông không bằng lòng với cách giải thích thông thường. Trước đối tượng nào ông cũng nghĩ và buộc mọi người cùng nghĩ với mình -Bậc thánh vì danh hay vì thực nào ai biết? (Thánh nhân danh thực hữu thuỳ tri?) Xưa nay ai là người có thể phá bỏ cuộc mê này? (Kim cổ thuỳ năng phá thử mê?) Hồn ơi hồn ơi hồn làm thế nào? (Hồn hề, hồn hề, nại hồn hà?). Những câu hỏi như vậy luôn luôn được đặt ra. Lịch sử với ông không còn là cái tất yếu không thể cưỡng lại mà là cái lẽ ra nên khác và luôn luôn có thể khác.

Nhiều người đã nói tới việc Nguyễn Du dùng những nhân vật lịch sử Trung Hoa để liên hệ tới hoàn cảnh của mình, tương tự như việc ông dùng cốt truyện mượn từ Thanh Tâm tài nhân, câu chuyện về mấy chị em Kiều để miêu tả xã hội Việt Nam. Nhưng có lẽ ở đây còn có thể nói tới một cái gì xa rộng hơn: những câu thơ hay nhất ở đây dường như đã chạm tới những vấn đề của nhân loại. Trong một nhận xét tạt ngang, nhà nghiên cứu Phan Ngọc có lần nói rằng văn hoá Việt Nam có phần nhẹ chất nhân loại mà nặng chất dân tộc, và đó là một nhận xét đúng. Bởi vậy, một khi thơ chữ Hán, bằng con đường riêng của mình, góp phần vào việc bổ sung cho cái mặt thiếu sót đó, chúng ta lại càng thấy trân trọng! Cũng như cái chất siêu hình mà các sáng tác của Nguyễn Du đạt tới không phải là một điều đáng xấu hổ, như một ít nhà nghiên cứu nghĩ, mà thực ra đáng tự hào. Ở nước nào cũng vậy, người ta thường vẫn ghi nhận phẩm chất đó như là một dấu hiệu chứng tỏ một nền thơ đã trưởng thành.


Cảm thông và thức tỉnh

Xưa nay nói đến Nguyễn Du, mọi người nghĩ ngay tới Truyện Kiều. Trong một cuốn sách tập hợp các bài viết về Nguyễn Du in ra gần đây [4] , phần viết về Truyện Kiều lên tới 815 trang trong khi phần viết về thơ chữ Hán chỉ vẻn vẹn có 128 trang. Tiếp tục làm cuộc thống kê thuần tuý số lượng thế này, người ta thấy ở sự cảm thụ của các cây bút nghệ sĩ như Hoài Thanh, Xuân Diệu lẫn những chuyên gia như Nguyễn Lộc, tỷ lệ cũng là tương tự. Giáo trình của Nguyễn Lộc dành số trang viết về Kiều năm lần lớn hơn số trang viết về thơ chữ Hán.

Trong hoàn cảnh ấy thì một số nhận xét viết trong Lời nói đầu bộ Nguyễn Du toàn tập in ra gần đây là một sự đính chính cần thiết. Theo như Mai Quốc Liên, người viết Lời nói đầu này, thì đừng vì đã có Truyện Kiều mà ra lòng rẻ rúng thơ chữ Hán. Bên cạnh Kiều phần thơ này cũng là một toà lâu đài sang trọng. Tỉ mỉ ra còn phải nói “Truyện Kiều là diễn âm, lỡ tay mà thành kiệt tác, còn thơ chữ Hán mới đích là sáng tác và nên xem nó là phát ngôn viên chính thức của Nguyễn Du” [5] . Nói cách khác, nếu ở Truyện Kiều người ta mới thấy tấm lòng và tài năng, thì tới thơ chữ Hán, người ta thấy được cả tầm vóc, bản lĩnh Nguyễn Du.

Trong phạm vi tìm hiểu còn nông cạn của mình, tôi cũng có cảm tưởng như Mai Quốc Liên và muốn nói rõ hơn cái phần tâm huyết do đó là cái phần chân dung của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán bằng cách thử làm một cuộc đối chiếu:

Kiều được nâng niu do giá trị của tác phẩm đã đành, nhưng còn xuất phát từ hai khía cạnh làm nên truyền thống cảm thụ của nhiều thế hệ người đọc ở ta: một là dễ nao lòng trước những gì đau xót gợi ra thái độ cảm thương và hai là coi trọng cái đẹp cảm tính hơn là cái đẹp lý tính.

Không phải ngẫu nhiên, nói về Kiều, nhiều người nghĩ ngay đến tiếng khóc. Xuân Diệu bảo đó là tiếng khóc vĩ đại. Trong số những bí mật cần được lý giải về khả năng phổ biến của Truyện Kiều, đấy chính là yếu tố thứ nhất. Song phải thấy ngay rằng sự cảm thương (hay rộng hơn là cảm thông) nói ở đây là hồn nhiên tự nhiên. Nguyễn Lộc khi phân tích nhân vật chính của Đoạn trường tân thanh nhiều lần dùng đến hai chữ ý thức, bao gồm từ “ý thức về cuộc sống” cho tới “ý thức làm người”, và riêng với đoạn cuối tác phẩm thì cho rằng nàng Kiều thuộc loại tuyệt vời ý thức [6] . Bởi lẽ với nhiều người chúng ta, Kiều là một con người lý tưởng, nên sự tôn vinh như thế thật dễ hiểu. Ta muốn dành cho Kiều mọi thứ tốt đẹp. Nhưng tôi tưởng nếu xem ý thức như một sự thấu hiểu có vận dụng đến sự xét đoán phân tích thì làm sao có thể nói là Kiều đạt tới cái trình độ cần thiết ấy cho được?!

Thử nghĩ lại mà xem, chẳng phải nghĩ tới Kiều là người ta nghĩ đến những lầm lẫn của nàng? Trước chuyện gia đình bị vu oan, nàng không bao giờ thử ngồi suy xét xem đầu đuôi mọi chuyện thế nào, vì đâu đến nông nỗi đó, mà chưa chi đã nghĩ ngay đến chuyện bán mình chuộc cha. Cũng vậy, nhìn chung cả cuộc đời Kiều, cái phần hấp dẫn nhất là tình, nhưng đó là thứ tình thiếu sự hướng dẫn của lý trí. Ma dẫn lối quỷ đưa đường – lại tìm những lối đoạn trường mà đi, khi khái quát vậy, Nguyễn Du quả đã bắt trúng cái thần của nhân vật, và ông đã diễn tả Kiều theo cái cách đó bằng tất cả tài năng kỳ diệu của mình. Chẳng phải là với nhiều người chúng ta, những đoạn Kiều gần gũi nhất là những đoạn buồn: Là đoạn khái quát cuộc đời Đạm Tiên? Là đoạn Kiều trao duyên lại cho em? Là đoạn Kiều nhớ nhà?…

Những vấn đề tư tưởng ấy lại thấm cả vào mỹ cảm và nghệ thuật. Xét về vẻ đẹp thì quả thật Truyện Kiều là một cái gì chín đầy rực rỡ. Nhưng phải nói thêm, ngay trong việc vận dụng thể lục bát, cái đẹp ở đây nhiều khi đã như lạ lùng ma quái. Trong Văn chương Truyện Kiều in lần đầu năm 1945, Nguyễn Bách Khoa tức Trương Tửu từng có sự cảm thụ tinh tường nét đặc sắc này của tác phẩm [7] . Ghê gớm thay là cái điệu thơ lục bát nó triền miên cuốn người ta theo cái tâm hồn sầu thảm và làm lan toả mãi mối cảm thương trước một hoàn cảnh bất lực. Với việc đưa lục bát lên đến tuyệt đỉnh, Truyện Kiều an ủi chúng ta nhưng cũng giữ chúng ta trong một sự cam chịu không cưỡng lại nổi.

Ở chỗ 3.254 câu Kiều dừng lại, thì thơ chữ Hán bắt đầu. Mấy chữ tuyệt vời ý thức, mà Nguyễn Lộc nói, nên dành cho thơ chữ Hán. Giọng thương cảm vẫn còn, nhưng nó chỉ giúp vào việc làm tăng hiệu quả của cái phần suy nghĩ chỉ có ở những người thông thạo sách vở. Cảm quan hoài nghi kín đáo nhưng bàng bạc khắp nơi, một thứ hoài nghi lành mạnh. Lời kêu gọi toát lên từ những dòng thơ Phản chiêu hồn, Độc Tiểu Thanh ký: Hãy nhìn rộng ra cả thế giới. Hãy biết đến những gì ở ngoài mình, ở ngoài xứ sở của mình nữa. Khóc một chút thôi rồi hãy lau nước mắt mà nhìn vào sự thực... Cố nhiên, vốn xa lạ với thứ thơ thuyết giáo dạy dỗ mọi người, Nguyễn Du không nói những câu bắt đầu bằng chữ hãy ấy với người đọc, song chính là từ các câu thơ người đọc nhận ra những gì mà tác giả tha thiết. Thậm chí ngay cả khi Nguyễn Du thú nhận sự bất lực rơi vào tuyệt vọng thì thơ ông vẫn có khả năng thúc đẩy sự suy nghĩ trong ta và kéo chúng ta về phía ánh sáng của trí tuệ.

Vẻ đẹp trong thơ vốn có nhiều sắc thái khác nhau. Trong Kiều có vẻ đẹp của Long lanh đáy nước in trời / Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng, lại có vẻ đẹp của những câu thơ đơn giản kiểu như Mai sau dù có bao giờ. Song ở Kiều loại thứ nhất nhiều hơn. Còn loại thứ hai thì phải đến thơ chữ Hán mới thật là có một sự trình diện liên tục: Ngoài cửa sổ hoa cúc vàng tươi tốt có thể ăn được (Song ngoại hoàng hoa tú khả xan); Hoa để tặng người mình sợ (Hoa dĩ tặng sở uý); Lúc múa may quay cuồng điên dại nhất là lúc đẹp nhất (Tối điên cuồng xứ tối phong lưu)... Nhìn chung lại, nếu Kiều khai thác mối cảm thông giữa người với người, thì thơ chữ Hán chọn cách tác động của sự thức tỉnh. Kiều an ủi ta, còn thơ chữ Hán làm phiền ta, buộc ta phải đặt lại nhiều vấn đề của đời sống. Kiều là du xuân, là tiếng khóc nhớ nhà, là những cảnh đầy ải không rõ nguyên nhân tại sao. Thơ chữ Hán là chuyến đi xa đơn độc, là con người đối diện với sách vở, với thời gian và lịch sử. Kiều gợi không khí của những ngày ê chề buồn bã, mộng thực lẫn lộn. Thơ chữ Hán là những đêm không ngủ suy xét sự đời. Người làm thơ trong Kiều thủ thỉ tâm sự vỗ về bạn đọc. Người làm thơ trong thơ chữ Hán đòi hỏi chất vấn chúng ta, buộc chúng ta đối mặt với cuộc làm người vất vả mà thú vị. Nhưng chính vì vậy thơ chữ Hán là sản phẩm của sự trưởng thành. Chủ nghĩa nhân đạo thường được hiểu một cách giản dị: chia sẻ với nỗi đau khổ của con người. Tóm lại là một chữ thương. Trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du đã đi gần tới một thứ chủ nghĩa nhân đạo khác - chủ nghĩa nhân đạo của sự hiểu. Đó là một quan niệm chỉ trong thời hiện đại mới được nẩy nở đầy đặn. Và nó lại cũng chính là thứ chủ nghĩa nhân đạo cần cho chúng ta hôm nay hơn cả. Chữ tâm đối với Nguyễn Du lúc này không còn là một thứ sụt sùi thương cảm, để che giấu sự bất lực; tâm đã biến thành cái hích đầu tiên buộc đầu óc chúng ta làm việc, bước đầu tiên để giúp con người sống đúng tầm người.


Tiếng rền của núi

Nhà nghiên cứu Đào Duy Anh từng thử đếm và thấy trong 65 bài ở Thanh Hiên thi tập có đến mười bảy lần nhắc đến mái đầu bạc. Tiếp tục lối thống kê ấy, người ta có thể nhận ra nhiều chi tiết cho thấy sự già dặn ở con người Nguyễn Du. Trong thơ ông người ta gặp những ngày lạnh hơn những ngày nóng, gặp mùa thu mùa đông nhiều hơn mùa xuân mùa hè, gặp ánh trăng gợi những ý tưởng hư vô xa xôi nhiều hơn mặt trời thôi thúc người ta chen cạnh với đời.

Những đêm không ngủ của Nguyễn Du mà phần trên đã nói cũng phụ hoạ thêm cho cảm giác đó:

Suốt đêm nghĩ ngợi thao thức không ngủ
Văng vẳng nghe tiếng sáo trong ánh trăng suông
(Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ
Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung)

Đêm khuya, băn khoăn một mình đối bóng
Nằm trên giường nghe mưa tầm tã mà sốt ruột
(Trù trướng thâm tiêu cô đối ảnh
Mãn sàng trệ vũ bất kham thinh)

Không chỉ già trước tuổi, Nguyễn Du còn hiện ra như một người thâm trầm lặng lẽ sống nhiều với nội tâm. Ta có thể đoán hàng ngày, có vẻ như ông là người ít nói ngại nói. Người ta có lúc đã nghĩ nhầm về ông. Một nhà nghiên cứu tả ông như “một kẻ tuỳ thời, ích kỷ, nhút nhát thích an nhàn, mơ giàu sang, sợ biến cố và tranh đấu” [8] .

Chỉ có thơ chiêu tuyết cho ông. Một bài như Phản chiêu hồn cho thấy một cách nghĩ quyết liệt hiếm có:

Thành quách vẫn như cũ nhưng nhân dân đã khác rồi
(Thành quách do thị nhân dân phi)

Đời sau ai ai cũng là Thượng Quan
Mặt đất đâu đâu cũng là sông Mịch La
(Hậu thế nhân nhân giai Thượng Quan
Đại địa xứ xứ giai Mịch La)

Thượng Quan là kẻ chuyên môn gièm pha. Còn Mịch La là tên con sông Khuất Nguyên tới trẫm mình. Ai cũng là Thượng Quan, đâu cũng Mịch La, nghĩa là cuộc đời này hỏng hết rồi! Trong thơ xưa nói chung ít khi thấy một lối nói đến kiệt cùng chi lý, nói trăm phần trăm, nói không chừa một chỗ nào để lùi. Lỗi phạm quy của Nguyễn Du là cố ý!

Nên để ý thêm là dưới con mắt của các sử gia từng viết Đại nam chính biên liệt truyện, thì Nguyễn Du là người ngạo nghễ tự phụ [9] . Thời phong kiến, những người có chính kiến riêng, tức là những người trẻ trung tươi mới trong cách nghĩ, thường bị ghép cho cái tội đáng ghét ấy. Nguyễn Du cũng ở trong số này chăng?

Ta vốn có tính yêu núi. Trong bài Tiềm sơn đạo trung in trong Bắc hành tạp lục, vụt lên một câu thơ lạ vậy. Trong nguyên văn chữ Hán Túc hữu ái sơn tích, chữ tích ở đây có nghĩa là một thứ tật, một thói quen đã bền chắc như là một sự nghiện ngập, và muốn cho chính xác phải dịch thành Ta vốn nghiện núi. Tôi cho rằng đây là một trong số những câu thơ đáng nhớ vì có ý nghĩa thông báo về tác giả. Hoá ra Nguyễn Du không phải chỉ là cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia; mà hình ảnh gợi đúng về ông phải là những ngọn núi, núi đơn độc, núi vượt lên trên sự bằng phẳng. Và thơ Nguyễn Du là một thứ tiếng rền của núi!

Liệu có thể nói cái phần bên trong rắn rỏi khoẻ mạnh lão thực mới là phần chính trong con người ông? Nếu thế thì còn có thể nói là ông trẻ trung mãi mãi.



[1]Thơ trích trong bài đều lấy từ Thơ chữ Hán Nguyễn Du do Lê Thước Trương Chính biên soạn, NXB Văn học, 1965
[2]Dẫn theo Hoài Thanh, Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán, 1960. Chính Hoài Thanh sau khi dẫn đã viết thêm “Nhận xét này rất đúng».
[3]Sách dẫn trên, bản của NXB Đại học và Trung học Chuyên nghiệp 1978, tr. 43
[4]Nguyễn Du. Về tác giả và tác phẩm, Trịnh Bá Đĩnh biên soạn, NXB Giáo dục, bản in 2003.
[5]Dẫn theo bản in lại trong sách Nguyễn Du. Về tác giả và tác phẩm, tr. 120
[6]Nguyễn Lộc, sđd, tr. 98
[7]In lại trong Nguyễn Bách Khoa, Khoa học văn chương, Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn và giới thiệu NXB Văn hoá thông tin, 2003
[8]Ý của Nguyễn Bách Khoa, Trương Chính dẫn lại trong Lời giới thiệu Thơ chữ Hán Nguyễn Du, tr. 30
[9] Dẫn theo Nguyễn Lộc, tr .17
Nguồn: Phụ san Thơ (19+20) của báo Văn nghệ, Hà Nội, số ra ngày 19-2-2005. Bản đăng trên talawas có sửa chữa và bổ sung vài chi tiết nhỏ.
Trích talawas
SỐ TRUY CẬP online