PHẠM TIẾN DUẬT

Sổ tay 1968
Phạm Tiến Duật học với mình, bây giờ lại gặp nhau ở cái món văn học này. Ngày xưa đi học là một ông tướng chúa luộm thuộm và bẩn thỉu, nhưng mà ngày nào cũng làm thơ, tháng nào cũng có một tập thơ có tên, có bìa, có mục lục. Say lắm, thỉnh thoảng lại ra tận Hà Nội, làm xong thơ là ào một cái gửi đi, thỉnh thoảng lại õng ẹo gọi con gái: Có nghe thơ Duật không. Duật đọc nhé. “Đọc thật uốn éo, cười, cái cười rất say mà rất bốc.
Hai thằng, đứa giường trên đứa giường dưới, cùng có âm mưu về văn nghệ cả mà không bao giờ gặp nhau. Ít lâu sau, mình đi từ Na Sản chỗ 148 lên doanh trại cao xạ trên đó với nó, cu cậu hẹn làm thơ rất nhiều. Rồi mãi đến cuối 1965, mới gặp lại nhau, và thỉnh thoảng trò chuyện- Mình chưa thể nhớ được ở Duật một cái gì, một câu gì cho thật rõ ràng cả, có lẽ vì nó thế chăng. Chỉ thấy đấy là một người rất tự tin và quý bạn. Đỗ Chu bảo: Nó bảo mỗi lần đi chơi với mình về, nó lại khôn hơn lên một chút”. Đúng là như thế thì thật hay. Duật quý bạn lắm, thằng nào cần gì ngửa tay là nó cho liền, khi cân gạo, khi ít tiền. Chỉ phải cái khổ là thỉnh thoảng lại trốn đơn vị, trốn từng buổi, ra nhà cậu Lâm ngồi viết. Rồi cuối cùng là cái vụ cuối năm 1967: Phát nhầm đài cho đơn vị, hụt vài trăm. Định bán cái xe đạp đi giả, thì sang thăm người yêu bên Gia Lâm, có chiếc xe đạp bị một thằng vớ vẩn nó giật mất. Thế là tay trắng. Gần đến ngày kiểm điểm cuối năm rồi, trốn về nhà chị. Đêm nằm cứ ngẫm nghĩ định xin tiền, sáng ra trông thấy các cháu nheo nhóc quá, lại thôi. Rồi đến lúc đơn vị tìm nháo nhác cả lên. khi ông Hồ Phương đến xin, người ta bảo:
- Đấy, người đào ngũ thế đấy, anh có xin thì xin.
Ông Hồ Phương bảo: Đến nổi tiếng như Nguyễn Khải mà đi đâu một ngày cũng phải báo cho cơ quan nữa là.
Ngẫm cái đời Duật mấy năm nay thật vất. Năm 1965, đánh mạnh khu 4 thì vào khu 4. Năm 1967, nó tập trung vào Hà Nội, thì lại ra Hà Nội. Năm 1968, vào khu 4 trở lại, hứng lấy chiến tranh hạn chế. Chiến tranh ác liệt nhất từ trước đến giờ. Và bây giờ cũng vào 500, lại vượt cửa khẩu, ở với những đơn vị Cha lo, Bép, Không dám ra mặt đường.
Mình đã đi với Duật rồi. Đến đơn vị xin đi với anh em một tuần. Tuần sau ở nhà viết. Viết xong đọc cho mọi người nghe. Thơ Duật là một thứ thơ dễ dàng, đọc cho ai nghe cũng được. Bây giờ thì lại có một kiểu khác. Đến các binh trạm, các ông ấy thú lắm: “ở với chúng tôi một tuần, một tháng chúng tôi cũng nuôi. Chỉ làm thơ thôi” Và Duật đã làm thơ “To lù din 3 cầu, khoẻ là din 3 cầu, đại đội có mình nó, nên quý như con đầu”. Làm xong thì chép vào những mảnh giấy. Đứng ra phát cho anh em trước khi qua cửa khẩu. Vậy thì là thơ đã có mặt với người ta.
- Nhưng mà đó cũng là điểm lo nhất của Duật hiện nay. Bởi vì cứ như thế mà kéo thôi, người ta sẽ hoá một thứ nghệ nhân, xẩm, không biết mình ra sao. Hình như so với người đời, mình dã giởi quá rồi! Hình như luôn luôn được hoan nghênh, và ai mà lại không làm đúng như người ta đã hoan nghênh được? Ghê nhất là một bài thơ của Duật: Chào những đoàn quân tuyên truyền. Chào những đoàn quân nghệ thuật- Sau khi ca ngợi một hồi, thì nâng lên:
- Có thế cũng như là nghệ thuật.
Chu bảo: - Thế thì không chơi với thằng này được nữa rồi.
- Cứ xem như thơ của bọn viết bây giờ thì cứ tưởng bọn trẻ như nhau thôi. Nhưng nói chung thì mới biết khác nhiều. Những thằng như thằng Bằng Việt nói chuyện với nó thì thấy nó sáng láng hết cả lên rất thông minh, rất trí tuệ. Thế thì mới được.
Lối làm thơ của mỗi người quyết định con đường đi của thơ người ấy. Duật làm thơ, cũng như Nguyễn Đình Ảnh , lạ lắm. Duật kể: Ngày xưa đi học, đọc hết sách Phú Thọ, rồi đọc từ 1, 2... đến hết. Làm thơ thì đọc rất kỹ các sách kỹ thuật (cây khoai lang, cây lúa) rất kỹ các phần tư liệu như tỉnh Bà Rịa, cây Vú Sữa... trên báo Thống Nhất. Mình nhớ, khi ra Bài thơ cuộc đời Duật đọc rất kỹ một chỉ khen Huy Cận làm thể thơ gì cũng giỏi, chỗ này trong bài này là học ca dao.v.v... Còn học thì Duật rất lười, lười không chịu được, không bao giờ làm được gì một cách trọn vẹn.
Con người Duật thì hóm hỉnh, thơ Duật rất hóm hỉnh. Cái câu viết. Chú Lư phố khách - Một thứ tiểu xảo chăng? Đúng hơn là nó biểu hiện một lý tưởng thẩm mỹ tầm thường, thích thú với những cách vớ vẩn. Ví dụ bài Chuyện lạ gặp trên đường hành quân- Bao giờ thì Duật cũng khoe cái câu:
Dấu vết voi xưa vừa đi vừa đóng
Chữ đóng thì hay thật, hay quá còn gì nữa.
Duật yêu người, dễ tin người, làm việc gì cũng chịu được. Lúc liều thì liều quá, bỏ đi. Nhưng đối với lúc ở nhà thì lại ngọt ngào dễ chịu. Chiều người, thích sáng chơi người ta, làm thơ tặng- Một cái câu tiêu biểu, do một cô bé ở Đoàn Chèo kể. Vừa gặp họ là Duật đã õng ẹo:
- Tiếc quá, các cô mà vào đây sớm thì hôm qua gặp một đoàn bướm vàng rất lớn mấy năm nay đi sơ tán mới lại trở về.
Nhưng mà Duật cũng là một kiểu nghệ sĩ chúa quên, chúa luộm thuộm. Có một cái bằng đại học cũng mang viết trên đường. Ở Cục vận tải kể, cái hồi yêu cô Liê . Cô ấy đến thăm Duật. Đúng là họ cũng khéo tìm nhau, chân đi đất, quần thủng buộc túm ống rơm v.v..
Mình bảo. Thằng Chu nó về đây lúc nào cũng được, nó đủ bản lĩnh rồi. Thằng Duật, thằng Hoàng thì phải gọi ngay nó về, cho nó đỡ đi. Lo thằng nọ thằng kia, như thằng Hoàng, không viết được thôi. Còn lo Duật thì lo nó không viết được hay hơn nữa.
Cuối 1970
Bộ mặt thời sự văn nghệ thường phụ thuộc vào cái này: người nổi tiếng trong một thời gian nào đó. Hồi trước, đó là Phạm Tiến Duật. Người ta đã nói: đó là cao hơn một nhà thơ, có nhưng phương diện còn cao hơn nền thơ - đó là một Apônline của Việt Nam. Và vừa rồi tôiđi văng, ông Khải kể: Mấy hôm ấy, con Điệp và con Bưởi chạy là cứ gãy gối. Lúc nào cũng có khách. Chúng nó ríu lại: ối - anh Duật ơi là anh Duật ơi! Hồi trước ở nhà, ông Nhàn đã lắm khách, nhưng ông này lại nhiều hơn. Chốc lại thấy một người hỏi, toàn là những báo nọ báo kia. Đến nối tôi ở phòng bên cạnh cũng sốt ruột lây, nhiều tay nó gõ cửa nhầm, tôi mức tức mình, tôi đ. ở đây nữa.
Điều quan trọng là lần này, nhiều vị trong chính giới cũng có mặt. Ông Trần Việt Phương đi ôtô lại, ôtô Vonga chứ, rồi lại mang mấy cái đĩa mới tới. “Đây là mấy cái đĩa mới nhất, chỉ có anh Tô vừa nghe nghe xong, Duật nghe là người thứ hai...
Gớm, thằng Duật là cứ cuống cà kê cả lên, mặt mũi nó hốc hác đi, nó tâm sự với mình: Em bận quá, chả còn viết lách được gì nữa anh ạ.
- Ông cứ yên chí, đời người chẳng phải ai cũng được như thế đâu, có người được nhiều, có người được ít... ta cứ tận hưởng cho xong.
Nhàn bảo như thần bảo, quả nhiên ít lâu sau con Lý Phiên nó đè luôn.
N: Thế anh xem, những ngày ấy. Duật còn tỏ ra lố bịch lắm.
X: Quả thật, cũng lố bịch một tí chứ, trách làm sao được. Khốn khổ, người đang ở chốn chiến trường, sợ từ tay trung đội trưởng trở đi, bây giờ gặp thế làm gì mà không thích. Tôi nhớ hôm ấy ông ấy bảo ông Bính: Em bị mệt quá, bây giờ các anh có cái đĩa nào mới em mượn tạm. ờ, cậu phải nghe nhạc chứ ! - Và cho mượn mấy cái đĩa của Bách. Thế là ông ấy ngồi, ông ấy dí tai vào tận đĩa ông ấy nghe.
Hồ Phương: tôi về, tôi cũng thấy cái chuyện cho ông Duật đại bản doanh ở đây là chối ngay rồi. Chỗ điện thoại thì .... Duật ở chỗ nọ chỗ kia. Và thế nào mà việc Thủ tướng mời cơm nhiều người biết quá, việc Đại tướng cho cái các cám ơn cũng nhiều người biết quá là thế nào ?
Nói thế: Phạm Tiến Duật ra, phòng Văn nghệ, Nhà xuất bản tổ chức toạ đàm, thu tiếng nói của Duật, Duật được báo Văn Nghệ tổ chức trao giải thưởng lại, được chi đoàn thanh niên bên đó mời nói chuyện. Và lần đầu tiên, nhà xuất bản Quân đội Nhân dân in riêng một tập thơ của một tác giả, tiếc là in lại tập Vầng trăng - quầng lửa mà Duật đã in bên nhà xuất bản Văn học. (đâu rút ra một bài cũ, thêm vào 10 bài mới ) Ngày nào, tột cùng gian truân, Duật bị cấm cửa ở các báo. Bây giờ Duật tột cùng hạnh phúc, tột cùng vinh quang rồi.
Từ trước tới nay, chưa bao giờ tôi nêu Duật cao quá như thế, tôi hay chê thơ Duật thiếu tâm trạng, ...phần làm thơ cho mọi người hơn là cho mình. Và một bức thư gửi vào, tôi bảo: Mọi người đều ca ngợi Duật, mà tôin lại chưa công nhận hoàn toàn. Có lẽ, đó là chỗ chúng tôi cần nhau chăng ? Trong Duật còn có những phần nghệ nhân, Duật nói được niềm vui của người lính, niềm vui mà người ta phải tạo ra, trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, nhưng dẫu sao, đó cũng một niềm vui có phần dễ dãi, có phần lẩn trốn, và chưa thật sâu xa.
Những tâm sự của bạn bè trong những ngày này.
- Phạm Tiến Duật: Tôi nói thật với ông, tôi mệt lắm rồi. Giá có thể đổi tuyến, đi sang tuyến khác một chút. Tôi cũng thấy đỡ khổ chứ tôi cũng chẳng mong về báo về chí làm gì ở tuyến này, mãi cũng chỉ có xe với công binh thôi, có làm gì được... ở tuyến kia, năm nào nó cũng vào vào ra ra, nó cũng ngán lắm rồi.
30/12/70
Một nhân vật văn học của năm 1970, của những năm này là Phạm Tiến Duật. Đó là một người mà tôi quen từ hồi đi học,nhưng chưa bao giờ thật thân. Một người nghệ nhân, say mê với việc viết, cứ thỉnh thoảng lại … 10-12 bài mới làm lại, thành một tập thơ, trang hoàng rất cẩn thận. Nói với bọn con gái” Đọc cho nghe một bài thơ nữa nhé” rồi khịt khịt mũi đọc thơ. Rồi đi bộ đội. ?Cuộc đời Duật đã chịu nhiều cay đắng, đến những nơi bị đánh phá nhiều nhất, làm những việc vất vả nhất (bị đánh, bị kỷ luật, không được đăng các báo, bị giao cho làm những việc khổ cực nhất, ví dụ đi thuyết tôichiếu bóng v.v…) Đó là con người của những chuyến đi, đi khắp nơi, đi không biết mỏi, đi đến đâu, cũng làm thơ, sau khi bị đánh, không được in báo, vẫn cứ làm thơ, hồi trước thì mang thơ ra chỗ barie đọc cho lái xe. Sau chép thơ vào giấy, phát cho chiến sĩ trước lúc vượt khẩu, qua trọng điểm. .. Nhưng nơi mà cán bộ đơn vị dám đến. Duật cũng không sợ, ai đến, ngủ với anh em chiến sĩ. Tưởng con người này là một thứ trời cho, không cái gì làm cho anh ta suy suyển được cả vể sức khoẻ lẫn sức làm thơ. Đó là con người … nhấn đi, đâu cũng sống được, đâu cũng lăn. Và thơ anh cũng vậy, gặp đâu cũng ra thơ, không lúc nào biết thơ, thơ như là một thứ tự vệ của cuộc đời, phải có thơ thì mới sống được.
Cho đến những ngày vừa rồi, Duật về Hà Nội. Những ngày đó, tôi không có nhà, nhưng nghe mọi người kể lại, thì cũng lại đúng là một người ở rừng về rất khôn ngoan, tự tin, nhưng cũng rất vất vưởng, dại dột, khong ai không kính trọng mà vẫn không ăn nhập được với không khí của những người làm văn nghệ ở đây, cũng giống như nền văn nghệ Việt Nam chắc là không ăn nhập được với nền văn nghệ thế giới.
- NgX: Kể ra thì người cũng có tí hơi lố thôi. Nghĩa là nhiều khách quá, suốt ngày có người gọi. Tôi ở phòng bên cạnh, người gõ cửa ầm ầm cơ mà. Nay báo này, mai báo khác. Chốc lại có người gọi. Lần đầu tiên Tạp chí tôicó xe Von ga để cổng đấy chứ ? Xe ông Trần Việt Phương đến: Đây là bản báo cáo mới nhất, anh Tô mới đọc kia, là cái băng anh Tô mới nghe. Rồi cho mượn… đĩa hát. Thế là Duật nghe thôi. Hôm trước tháy bảo ông Bính: Anh có ít đĩa Bét tô cho mượn. Hôm sau ghi vào, thấy nhà thơ đang mở máy, tay gõ nhịp, có lúc lại cũi xuống ghé sát tai vào bên máy nữa.
… Nhưng mà bẩn thượng hạng. Ông xem xem, cái chỗ kia, khéo khi ông ấy đái vào đấy đấy.
- Các cô Đ, Vòng: Về khoản bẩn thì khỏi phải nói. Anh ấy nói chuyện vui lắm, ai cũng muốn nói chuyện với anh cơ, nhưng mà lúc căn cơm mà phải ngồi nói chuyện với anh ấy thì rất ngại. Có lần em đã nói xa nói xôi: Anh Duật này, thế trong ấy thiếunước lắm anh Duật – ừ, thiếu nước lắm – Thế ngoài này nhiều nước chứ – ừ , nhiều nước. Nói đến thế thôi, chứ còn nói gì nhiều nữa ?
Nhưng mà anh ấy lại hay nói chuyện vui lắm. Anh ấy bảo: Sống sao cho nhìn thấy mặt nhau nữa chứ, làm gì mà phải quá nạng nề với nhau. Hôm mẹ anh ấy ra đây, lúc về anh ấy kể: Dẫn mẹ đi, được một lúc, mẹ kêu: Con mua cho mẹ bắp ngô luộc. Thì ra đi ra Hà Nội vẫn chỉ thèm bắp ngô luộc.
- ..(Trị Sự): Để ông ấy ở đây thì cũng được thôi. Nhưng mà một là nhà khách nhiều điện quá, khách và điện nhiều hơn chủ nhiệm, cứ hết người nọ đến người kia. Sau lạ cả những khác ông ấy mới gặp, mới quen nữa, cũng đưa về đây hết. Thứ hai là ăn uống ông ấy cũng không trả đủ tiền ăn, phiếu gạo cho bếp ông Điền.
CK: Hồi ấy ông Duật nhiều người quen quá đến nỗi tôicảm thấy đến gặp ông ấy thì cũng thiếu tư cách.
Ông ấy nhiều người chờ như chờ vào khám bệnh ấy.
CK (tiếp): Tôi có cảm tưởng ông Duật ông ấy đối với ai cũng vậy. Nói chuyện nhiều không được, nhưng mới gạp thì lại rất dễ nói chuyện. Tôi biết là ông J cũng không thật là vào ông Duật, ông ấy như con hổ, động vào là c…. mọi chuyện
J… C: cứ mang tác phong lính tráng ra với mình, lắm lúc cũng đến chết dở với ông ấy. Ví dụ có hẹn mình, không bao giờ ông ấy đúng hẹn. Sau lại còn õng ẹo nửa xin lỗi, nửa bỡn cợt nữa chứ. Tùng chẳng hiểu ông ấy yêu bà Dạ thật hay đùa, với ai ông ấy cũng làm như là ông ấy có thể yêu chính ông ấy thôi vậy. Hai đứa đi với nhau trong Hà Nội cứ vật và vật vờ, không hiểu đứa nào dựa vào đứa nào.
Chi: Nhưng ngày tao với nó đi chơi, rồi về nằm nói chuyện, thì mới thấy gặp nhau trong nhiều ý nghĩ lắm.
… Thằng ấy nó đi nhiều, biết nhiều (N: Nếu nó viết văn xuôi thì ghê !) – Nó mà là một thằng cơ hội thì chắc ghê gớm lắm.
… Nhưng mà có nhiều điểm, ông ấy cũng cứ làm ào đi. Thế thì cả tập thể, nhưng mà số còn lại cũng chỉ độ một nửa, còn một nửa cũgn sẩm lắm. Còn đi chơi với ông ấy thì buồn cười. Ông ấy ở rừng quen rồi, chả biết sợ là gì nữa. Lao Quế Dg phó phòng tuyên huấn dưới kia, tôicũng phải sợ nó bỏ cha đi. Hôm ấy vợ ra chơi, đang đến xin nó tha ra ngoài ngủ – Duật đứng đấy cứ vênh vênh lên: Cho Chu nó đi mà - Không làm sao đâu. tôisợ quá, trông ông ấy cứ nhơn nhơn lên, thành ra ông ấy không nói đỡ tôithì cho, ông ấy sắp thì ra ngón gì, tôiphải chặn đi. Có lúc tôiphải bảo: Duật vào được lên gặp anh Văn đấy anh ạ. Cụ thích Duật lắm. Mai đến lúc sắp đi, nó mới lại nói được một câu nên hồi.
- Em đang được in tập thơ. Để khi nào xong em gửi Chu xuống cho anh.
Hôm nọ ông Trần Cư trước mặt đại diện tuyên huấn các nơi, kêu là ông Duậg tự kiêu, một thằng đi họp ở chỗ tao về nói lại. Lão KD bảo:
- ừ, cái tay Duật ấy, lấc cấc chết đi được ấy mà.
“Thằng ấy cứ lúc mê lúc tỉnh là thường. Nó nói thế là mê. Nhưng lúc khác, nó đến Vũ Tú Nam bảo ông này nhận xét được, thế là tỉnh chứ gì. Hôm nọ gặp ông Thi - ông Thi kể vừa nói chuyện về Nhật ở tạp chí. Duật nói ngay : … chỗ ấy được mấy ! Hôm nào mấy đứa đến chơi, nghe anh nói chắc hay hơn.
N: Thế là không hiểu ông Thi rôi, Ông Thi rất thích mọi thứ đình đám sang trọng
C: ừ, thì không hiểu. Có lúc lại hiểu. Như nó đến nó mắng lão Trần Cư cái việc in thơ của nó chậm, thì nó lại tỉnh, lại hiểu chứ còn gì nữa.
- Người về thì là quyền phép lắm. Tao với nó đang ngồi thì có lão ở báo Thống nhất đến xin bài.
- Có, tôi có bài rôi, nhưng chưa chép được mai anh lại.
- Thế thì mai tôi lại
- Nhưng thơ tôi là phải đăng liền 3 bài, chứ không đăng được một bài
Ông ấy đã có thơ đâu. Tôi mới ngồi làm. Làm luôn ba bài trong một tối. Hôm sau, tay kia đến, nó đưa ra, lại còn dặn phải đặt vào đâu như thế nào, tay kia nhất nhất làm theo cả.
Thế là hôm sau, Duật mang tiền cho anh em ăn bánh tôm bằng cái đó.
Duật là anh lính ở chiến trường về, tiêu vung lên. Vì nghĩ rằng không biết bao giờ tôisẽ về. Duật làm như thế, cả về mặt tài năng. Duật thử dùng quyền hành của mình, người ta để cho Duật cái quyền đó. Nhưng tất cả vẫn là xa lạ, xa lạ.
- Hôm nọ, nó lại ngồi cho ông Lình Chi về đấy.. Ông này đã vẽ tao một lần, tao sợ quá, phải mang về quê ngay. Bây giờ … ông Duật. Buổi trưa Duật đến.
- Để Duật ngồi, Duật vừa đọc thơ… thể. Anh nghe thơ anh hiểu Duật thì vẽ Duật đúng hơn.
Nhưng mà tranh ông Duật lại đẹp chứ, lão ấy sẽ bày trong triển lãm sắp tới đấy.
6/11/71
Như vậy là các bạn ra Hà Nội cả, lâu mới gặp khá đầy đủ. Đỗ Chu, Phạm Tiến Duật… Có lần ông Châu hỏi mình: Phạm Tiến Duật là người thế nào, tôi bảo: Quả thật tôicũng không biết cho thật rõ ràng. Có phải là lòng ghen tỵ không, nhưng thành tâm mà nói, tôi thấy Duật không đùa, có lúc rất say mê, rất nhạy bén, nhưng có lúc lại rất ngẩn ngơ và đại dốt. tôivẫ giữ ý kiến, từ xưa đến nay, là thơ … như sự thông minh của người chiến sĩ, một sự thông tôirất là vớ vẩn, để dồn vào đánh nhau. Đó không phải một người hoạt động xã hội mà chỉ là một người lính có tâm hồn nghệ sĩ. K bảo: Nói chuyện với ông Duật lâu cũng không được, nó không vào – chỉ thấy quý ông ấy thôi… Ông ấy có đối với ai cũng như ai, thì còn gì là thú vị nữa.
Những ngày Đỗ Chu về – D và Đỗ Chu đi lang thang khi nhiều nhà, đi đâu cũng có đôi với nhau. Bọn tôinói đùa: chắc nó nghĩ đây là một người nhất thơ đi với một người nhất văn xuôi. …. có khả năng nghĩ như thế lắm. Duật như một người lính giành dụm được rất nhiều tiền, về hậu phương tiêu một mẻ thả cả, để rồi lại vào Trường Sơn, ăn rau với muối. (Người ta ví Duật như Apônline, không phải do những cách tân về thơ ca, mà vì A là người cứ lăn đi chiến trận, rồi lúc nào đó, lại quay về, lại đưa ra thơ, làm tất cả mọi người xôn xao cả một lượt !)
- Về mặt sinh hoạt, Duật là một thằng rất bẩn, và lại rất ít nhạy bén về cái bản mình. Điệp đánh máy kể: mở cái phòng con của anh ấy ra thì hôi không chịu được. Đi ăn cơm, đứa nào cũng thích nói chuyện với anh ấy, mà đứa nào cũng sợ ngồi cùng mâm. Có lần em bảo: Anh Duật này, ở trong Trường Sơn thiếu nước lắm nhỉ – ừ, ở đây sẵn nước lắm nhỉ – ừ – Nói thế mà anh ấy vẫn không nhận ra, vẫn cứ bẩn thôi…
Thế nhưng đó lại là một người được ông … trưởng gọi đến ăn cơm, từ 10 h đến 1 h trưa. X: ông Mai làm hộ ông ấy, nhưng có được thế đâu. N: một đằng như đồ vật, một đằng như cây cảnh. Mà thật ra, ông V có quý tho Duật lắm đâu. Căn cứ vào trình độ học thức của ông ấy thì đoán thế. Và nghe ông Hữu Mai nói lại, cũng là như thế. Nhưng mà ông ấy vẫn quý thôi. Đỗ Chu: Thế là phen này, tay Duật được gặp từ Thủ tướng đến thằng lính còn gì nữa. Nhưng mà đây vẫn là một thằng lính, tôi nói lại.
18/12/70
Tôi đứng trước Duật như đứng trước người nghệ nhân có tài năng nhất, tương đối mới mẻ nhất của quần chúng và chỉ có thế thôi.
Từ tháng 5 đến tháng 11/70, Duật đã ở Hà Nội như một người anh hùng. Nhưng thơ Duật là thơ phải đi mới viết được. Tôi nói đùa: Rồi Duật phải sang những chiến trường D, E, ... gì nữa. Người ta đã đưa Duật lên. Có lúc người ta đã cúi rạp người trước Duật, đã chịu để cho Duật làm tình làm tội. Thì cũng giống như trước kia người ta vùi dập Duật. Người ta sùng bái chính quyền lực của người ta. Người ta muốn thử thách quyền lực của người ta thì đúng hơn. Rồi lúc nào đó, người ta sẽ quên Duật đi, không xa đâu.
Thân cát bụi lại trở về cát bụi.
Khoảng 1974
Về Phạm Tiến Duật
Đọc Duật, cứ thấy một tâm hồn vào đời sống, nhẹ tênh đi.
Duật là một người đầy mâu thuẫn. Mâu thuẫn giữa:
- một người tỉnh phải mê đi làm thơ
- một người làm thơ cho mọi người mà lâu quá, nhuyễn quá, biến thành một thứ yêu cầu nội tại làm thơ cho mình
- một người đi nhiều, mà rất lặng (khác Bằng Việt)
- một người làm ra vẻ hiện đại, ngổn ngang, nhưng thật ra đơn điệu, cũ, õng ẹo.
- một người sáo làm ra vẻ đơn giản (ngay cả sự sáo của cái đơn giản, vẫn là sáo, không thương được)
Sự phổ biến trong thơ Duật, sẽ nói một cái yếu trong thơ anh (Khi một người viết được tất cả mọi người công nhận, anh hãy coi chừng!)
Cái hồn õng ẹo đã chi phối cái thực tế ngổn ngang, cái mà từ đó, có thể rút ra một cái gì ghê gớm hơn.
Thơ Phạm Tiến Duật như tiếng thì thầm của một người bạn đi suốt với ta chỉ trỏ với ta mọi điều- và chỉ có vậy. Phạm Tiến Duật yêu thương, dễ rung động gần như là có cả tính ở sự không có cá tính.
Cái nhìn của Phạm Tiến Duật có hơi chiều đời quá chăng? Điều chắc chắn là Phạm Tiến Duật nhân hậu lắm, mà cuộc đời người ta, có phải chỉ cần nhân hậu.
Nhiều khi sự thông minh hóm hỉnh đã hoa tự sắp xếp thủ pháp khéo léo, người ta phục cái tài người làm thơ, hơn là điều sâu sắc của nhà thơ.
Sau một hồi dẫn dắt rất kỳ khu, điều Phạm Tiến Duật nói với mọi người lại là một điều không phải thật mới mẻ.
Thơ Phạm Tiến Duật là thơ của một người đi rất nhiều, mà tấm lòng vẫn vô chừng tĩnh tại.
... (Trong khi thơ người khác tưởng không đi, mà đi!) Một dấu hiệu ở Phạm Tiến Duật, năm tháng không làm cho thơ thay đổi bao nhiêu.
Thơ Duật đã là thơ một người ở chiến trường chưa. Sao ở đó, vẫn còn nhiều cái lạ. Duật lạ thủ đô mà cũng lạ cả lúc ở chiến trường.
Cái vui của Duật, chưa qua những niềm đau, nên chưa thành cái đau thật sự.
Thơ Duật chưa phải thơ lính, chỉ là một người bạn của người lính. Còn cái ồn ào của một người ngoài cuộc.
Một số người làm thơ quá giống mọi người. Duật khác mọi người. Nhưng thật ra, sự khác có là bao, nó là một cái áo ban ngày.
Thơ Duật là một thứ thơ cấu trúc, vụ cấu trúc toàn bài, hơn là từng chữ.
Duật tỉnh táo ở chỗ: tất cả đều hợp lý - những sự bất ngờ có bố trí. Không thấy một câu ngô nghê quá mức. Chỉ có những ngô nghê vừa phải.
Tôi nghĩ thơ mặt trận của ta có thể khác, có thể thấm thía hơn kia. Duật nói cái về bề ngoài, mà chưa thấy vẻ bên trong của người lính.
Khác với thơ xưa nay là tiếng hát, thơ Duật muốn là một thứ chuyện trò, chỉ trỏ suốt đường. Phạm Tiến Duật tài nghệ hơn sâu sắc
Những cái ngồ ngộ vốn không bao giờ có khả năng có thể biểu hiện được cái sâu sắc, và không bao giờ đi liền với một năng lực thẩm mỹ tinh tế.
Trong đời sống cũng vậy, trong văn học cũng vậy.
Rất nhiều lần, tôi thấy những thanh niên có nam cả mũ, rất trẻ dắt con khá lớn đi trên đường phố. Những người thanh niên này cũng lấy vợ, sinh con như các thế hệ trước. Nhưng ngày xưa, sau khi có con, người ta già đi. Còn hiện nay, người ta cứ ở đấy, đứng đấy, trong khi đứa con lớn lên, cho nên cảm thấy trẻ.
Xuân Quỳnh: Thơ Phạm Tiến Duật như thơ của người lính lúc đang đứng trong chiến hào, mà không phải người lính lúc đã về hầm.
Nguyễn Minh Châu: Thơ Duật viết về chiến tranh, nhưng nó lại trần xì chỉ có chiến tranh thôi. Phải nói về chiến tranh, để rồi thêm vào một cái gì khác nữa.
Niềm vui của ông Duật nó vừa có tính chất thời đại, vừa thiếu chất thời đại. Thời đại bây giờ nó có một cái gì dòng ngầm bền vững lắm cơ.
(Nó ở một không khí đầm ấm chân chính, lại có một thoáng xa vắng như trong bài hát Đường cày đảm đang mà cô Bích Liên hát vậy) Như bây giờ anh tả một HTX chẳng hạn. Đúng là phải tả cái máy bơm, buổi liên hoan. Nhưng nó vẫn có một cái gì sâu xa ở bên trong, ở hàng tre, ở mặt ao, ở cái màu áo gụ. Thơ Duật thiếu cái đó đấy (Nhàn: Đỗ Chu còn có duyên là nhờ cái đó!)
Phạm Tiến Duật cho ta thấy đề tài có thể có vai trò quan trọng đến như thế nào.
Nói chuyện với Phạm Tiến Duật
( khoảng 1973-74 )
Người mà tôi cảm thấy gần gũi nhất lại là Bằng Việt. Gần trên một quan niệm chung về đời sống. Đỗ Chu nhận xát rất đúng về mọi chuyện. Đỗ Chu làm khùng lên. Nhưng Đỗ Chu không thật trách nhiệm như Bằng Việt. Việt biết rất cả, nhưng chừng mực, độ lượng.
Nhàn: Tôi thích Những cánh rừng không dân của ông hơn VTQL . Có lẽ là vì chỗ này: Vì nó có cái gì chân thật tha thiết hơn. VTQL có phần mỏng, nhẹ.
- Năm 1965 , mình cùng hoà chung vào nỗi vui mọi người trong những năm đầu chiến tranh. Vui vẻ thật, không có gì phải phân vân hết
Lúc ấy, làm thơ, thường chỉ hay nghĩ: người đọc người ta cần cái gì
Lấy mình ra mà suy. Suy ra những cái lạ (Đọc một bài thơ thường vài khổ đầu mà không thích, mình không thể đọc được)
Đến những năm này thì khác. Mọi cái thấm vào mình, thấm vào đủ mọi tình cảm khác nhau.
- Nếu tôi hỏi: ví dụ như điều quan trọng nhất mà ông định nói, điều được coi là đường dây xuyên suốt trong cuộc đời ông là ?
Có phải là ông muốn nói về một niềm vui sống - về cái khả năng sống hầu như vô tận, trong cuộc đời này?
Có lẽ là như thế. Tôi nhìn ở đâu, cũng thấy những biểu hiện của cuộc sống, có thể khẳng định được. Tôi yêu Trường Sơn, vào đây thật sự cảm thấy niềm vui. Người lính từ hậu phương lớn vào đây mang theo mọi mối quan hệ sẵn có. Khả năng thích ứng của người lính thật lớn. Có nhiều điều họ không cần nghĩ nữa. Những chuyện như ta-địch, bên này bên kia, không có gì phải bàn cãi nhiều. Muôn vàn mối dây quan hệ ràng rịt họ lại. Họ phải quý mến nhau...
(Thật ra, quan hệ giữa người với người ở Trường Sơn còn có phần đơn giản hơn ở ngoài này nữa- viết rất khó)
Tôi cứ nghĩ. Phải biết tất cả mọi chuyện, để rồi nói những điều gì có ích nhất cho một người bình thường hiện nay.
Mỗi người bình thường đều hiểu những điều mà nhiều khi những người làm thơ, làm báo chúng ta có thể hiểu bằng nhiều con đường khác ( hiểu cả bằng con đường sách vở)
Thế nhưng tôi có cảm tưởng là họ còn hiểu hơn thế nữa.
Tôi muốn giành lấy phần đó, viết cho những người đó, về những cái đó.
Lịch sử như một dòng sông. Các tướng tá, những người làm chính trị vạch ra một con đường, vạch ra một bờ luồng. Những người dân thường, những binh lính, có khi không đi vào giữa luồng, mà rẽ ra chung quanh, nhưng thật ra cùng đi theo luồng cũ thôi. Và tất cả những cái đó, làm lên lịch sử.
- Cái mà còn lại của mọi nền văn học, là ở chính nghĩa, nhân đạo, là tấm lòng đồng cảm, nhân hậu.
... tôi đang muốn làm những bài thơ về ru con. độ 50 khúc ru chẳng hạn: khúc ru về những người chồng lang thang...
Biết đâu, trong những bài thơ đó, sẽ có thể nói được chuyện đời, không kém gì những điều tôi đã viết về những người lính.
Tôi có nhiều bạn bè trong những người lính (một lần, Duật đọc một bài thơ về một cô con gái hy sinh, những cô gái chung quanh ngồi khóc mãi!)
- Có nhiều điều mình cãi lại bạn bè, nhưng sau về nghĩ lại, thấy chính là bạn bè nghĩ phải.
Một tháng ở Hà Nội, tôi hiểu ra nhiều chuyện hơn mấy năm ở trường Sơn. Có những hoàn cảnh, chỉ ở trong một tháng, mình hiểu ra những vấn đề hơn hàng mấy năm. Dĩ nhiên phải có mấy năm kia, thì mới có mấy tháng ấy.
Nhàn: Nếu chọn một bài, ông chọn bài thơ nào, theo ông, bài thơ nào thực của ông
Duật: Bài Gửi em cô thanh niên xung phong, thật là tôi nhất: yêu thương, tán tình, đôn hậu, dông dài.
Đó là vì ông hỏi tôi bài tôi là tôi nhất. Còn bài tôi thích nhất, thì bài Những mảnh tàu lá. Cái đó tôi chưa có nhiều.
Nhàn: Tôi thường nghĩ đến ông là tác giả bài Trường Sơn đông Trường Sơn tây. Có một chút gì tây say trong đó.
Duật : anh nghe nhạc, thì nó còn gì sàng sê nữa cơ.
Tôi hiểu ý ông nói là trong thơ tôi có một cái gì dông dài. Nhưng nó lại là cái dông dài của số đông, hàng triệu người tìm thấy trong cái dông dài đó, những gì gần gũi với mình...
Nhàn: Nhưng anh em làm thở trẻ khác cũng tìm thấy sự gần gũi.
Duật: Đến mức khi tôi đã bỏ đi rồi, thì họ vẫn còn ở đó.
Nhàn: Tôi cho rằng ở chỗ dông dài đó, ông hiện đại hơn Đỗ Chu. Đỗ Chu vào đời không sòng phẳng. Đỗ Chu không hết lòng với chiến tranh, mà ngược lại có phần co lại trong chiến tranh! Có lẽ ông Duật là người biểu hiện hồn nhiên của chiến tranh.
Duật: Mình thật sự gần lính, là trong khía cạnh ấy. Người lính cũng nghĩ gần như mình.
... Nói chung, mình đã vào chiến tranh, đã không né tránh. Chỉ có một lần, lính địch nó đổ gần ngay đấy, mình không thể chạy được, quả lúc đó, có tìm cách rút.
Duật: Nhưng mà sau tất cả mọi chuyện, tôi gần nhất vẫn là Bằng. Vì người ta thường tìm cách thích những gì khác mình, thích những thứ mình không có.
N: Nhưng ông cũng phải thấy rằng về một phía nào đó, ông lại rất gần Bằng. gần trong những gì sâu xa của cuộc đời. Một cách nhìn ưu ái chẳng hạn về phía ấy, tôi khác gì các ông nhiều. Không nói về tài năng nhưng cách nhìn của tôi khác. tôi hay thắc mắc hơn chẳng hạn.
Duật: Tôi là người sống quen thích nghi, thế nào cũng được. Như với bạn bè, tôi trốn không được, nên cứ tiếp khách, và rồi cũng vui với khách được. Tôi biết tất cả, nhưng xa mọi người, thì không xa ai.
Thơ văn luôn luôn có cái gì vĩnh cửu, có cái gì thời sự nhất thời, và cả hai cái đó, là thống nhất.
Như về tình yêu. Các ông Xuân Diệu, Huy Cận, cũng đang làm thơ về tình yêu: ghen, nhớ, v.v... Nhưng các cụ lại không nói được cái mặt biến chuyển trong thơ. Ví như làm ra cái áo. Xưa nay, thì bao giờ cũng thế, cái áo để che người, và phần che người của nó bao giờ cũng thế. Nó chỉ có khác, hoạ chăng là ở cái cổ, những cái rất phụ thôi, nhưng lại làm cho nó phát hiện cái cũ với cái mới.
Duật: Tôi đã về hậu phương, và hiểu những gì mà chiến tranh mang lại, trên vai người nông dân.
Nhàn: Trước đây, cứ tưởng nông dân là một sức lực không cùng. Bây giờ không phải, họ cũng mòn mỏi đi.
Tôi gặp, chị phụ nữ, xa chồng 15 năm nay. Năm nào cũng mong chồng về, nhưng chồng không về. Cứ đợi từ năm này qua năm khác. Và thoáng chốc đã 15 năm.
- Người ta thường gắn Phạm Tiến Duật với những cách nói: Con bống thế này con cò thế kia. Hay nghịch là, hay cười là.
- Những cái đó, chỉ có trong một hai bài, đâu có phải là tôi? Tôi nghĩ bây giờ thấy xấu hổ, khi nhớ lại Tiểu đội xe không kính. Có lẽ một phần vì là vì hồi ấy, bắt đầu tôi làm thơ theo cách thế này: Tôi muốn làm cho mọi người nâng đỡ chán. Tức là cái gì mọi người đã biết rồi thì tôi không nói nữa (đọc bài thơ của người khác 1-2 khổ không ra sao, tôi thôi)
- Nghĩa là anh bắt đầu bằng một thứ gì như lạ? Anh nghĩ gì về sự lạ.
- Có những người bây giờ nghĩ tới Phạm Tiến Duật là nghĩ tới chuyến đi. Tôi rất thích đi, và còn đi. Nhưng phải vừa đi, vừa học, vừa viết. Lúc đã không viết được, thì đi đến mấy cũng không viết được.
... Dạo này, tôi cứ muốn nghĩ lại mọi chuyện. Nghĩ về hoà bình, nhưng lại nhớ tới chiến tranh. Tôi muốn ngồi viết về những cái hôm qua, dưới ánh sáng những điều hôm nay, tôinghĩ lại những điều hôm qua. Cuộc đời là rất thống nhất
Bài viết
MỘT TIẾNG NÓI LẠC QUAN
TRONG NHỮNG NĂM CHIẾN TRANH- THƠ PHẠM TIẾN DUẬT
NHững người đã có dịp đi với bộ đội ít nhiều hẳn biết rõ người chiến sĩ của chúng ta có một đời sống tinh thần đặc biệt; các anh rất dễ vui, và niềm vui của các anh rất trẻ, khoẻ. Hành quân nhọc mệt nhưng đặt ba lô nghỉ là nói đùa, nói "trạng". Leo những cái dốc "ê ẩm", đặt cho dốc đủ mọi thứ tên để cười. Làm được cái hầm đẹp đã vui. Cải thiện được bữa rau rừng cũng vui!. Cái lạc quan, cái vui đã thành một nét bản chất của người chiến sĩ, nó nảy sinh trong mọi hoàn cảnh, như một thứ thách thức vượt lên khó khăn; nó là cái hơi ấm toát lên từ tâm tình của những người tự tin và đang chiến thắng.
Trong chiến tranh , Phạm Tiến Duật luôn luôn có mặt giữa những người chiến sĩ như thế. Anh đi với lái xe, với công binh, với thanh niên xung phong trên một tuyến đường vận tải quân sự đặc biệt, và những bài thơ in lại trong Vầng trăng quầng lửa, trong Thơ một chặng đường chính là được bắt nguồn từ cái vui, cái lạc quan của cảnh và người gặp trên đường. Như là có một sự gặp gỡ đặc biệt giữa tâm hồn một người chiến sĩ và một người làm thơ. Và chúng ta có một tiếng thơ khá độc đáo.
Lần theo những trang thơ, người đọc biết rằng Phạm Tiến Duật đã đi nhiều nơi lắm. Trong văn học, từ việc sống đến việc viết, có nhiều cách thức khác nhau. Có người đi rất nhiều nhưng chỉ cốt nắm lấy không khí, cái "thần" chung nhất của khung cảnh. Đọc những trang viết của họ, nhiều khi thấy ánh lên một cái gì rất mới mà không bao giờ có địa chỉ rõ ràng. Phạm Tiến Duật không như thế. Anh đi đến đâu, anh gặp những ai, ta dễ đoán biết. Anh muốn vang vào trong thơ cả những chi tiết bộn bề như văn xuôi: những chuyến xe bom giật, bom rung vỡ kính; những đêm "cao xạ thình thình điểm đầu canh ba"; khu vực cho một ngày 17 trận bom Mỹ dội. Gợi ý cho bài thơ của anh là một cái cặp tóc ai để quên trên cỏ, tiếng đuổi gà của bà mẹ khi lúa chín trên đồng. Đọc thơ như được cùng anh vào một cuộc đi xa xôi và đầy hứng thú. Mọi thứ đều được anh chăm lo, chi chút. Lúc nào anh cũng giữ được một thứ ngạc nhiên, một niềm say mê "say miền đất lạ" rất tự nhiên. Tuy vậy, đó chỉ là cách viết. Điều quan trọng là thơ Phạm Tiến Duật không bó hẹp trong những người, những cảnh cụ thể. Mọi người khác, ở những đơn vị khác, đều có thể tìm thấy ở thơ anh một sự thông cảm. Một mặt, anh không muốn đơn giản, sơ lược. Như một người chứng kiến nghiêm chỉnh, anh nói khá đầy đủ về những vất vả đến với mỗi chúng ta trong cuộc chiến đấu. Mặt khác anh nói rõ những cái đó, nhưng không làm chúng ta băn khoăn do dự, mà ngược trở lại, một tiếng cười giòn tan cất lên, với tất cả sức trẻ của mình, chúng ta đã vượt qua mọi gian khổ. Người chiến sĩ trong thơ Phạm Tiến Duật vừa thực vừa đẹp một cách lạ lùng. Dù có thế nào vẫn "không có chuyện gì" về tất cả những người ở đây hết. Những xa cách "Trường Sơn đông Trường Sơn tây" không làm cho ai buồn. Trong cái đêm bom rung vỡ cả mái ngói, người chiến sĩ vẫn ung dung ngủ lại với gió sông Lam. Phải lạc quan lắm mới có được một giọng thơ như trong bài Qua một mảnh trời thành phố Vinh ấy! Càng đi vào những miền trọng điểm như Seng Phan, "tiếng bom như tiếng thú" nghe lại càng nhỏ. Và hơn thế nữa, không những ung dung tự tin, người chiến sĩ còn tìm được những niềm vui ấm áp. Anh không bỏ qua một đàn bươm bướm trên lèn đá, một câu hò trong đêm bốc vác rộn ràng. Biết tiếng hát trong rừng "nhịp với phách xem chừng sai cả" anh vẫn lắng nghe. Một tình thương mến bao trùm.
Thương em, thương em, thương em biết mấy.
Trong bài Gửi em, cô thanh niên xung phong, tình cảm giữa hai nhân vật rất tiêu biểu của cuộc chiến đấu của chúng ta, của anh bộ đội và cô thanh niên xung phong, được biểu hiện thật lành mạnh mà thấm thía, đậm đà. ở các bài khác Khi em qua đèo, nghe em hát trong rừng cũng vậy.
Tất cả những tâm tình chiến sĩ ấy là rất phổ biến, nhưng lại mang một dáng vẻ riêng của Phạm Tiến Duật. Anh hóm hỉnh nghịch ngợm mà đôn hậu thương yêu. Anh dễ dàng sao trong việc làm thân trò chuyện với mọi người! Và không chỉ có vui, anh còn có dụng ý muốn mang tới chúng ta những suy nghĩ khái quát. Chuyện các cô gái lái xe: niềm tin có thật trong cuộc chiến đấu. Nói về các lứa tuổi kế tiếp nhau trong trưởng thành là bài Khi em qua đèo. Về mặt này, bài thơ dựng cảnh Vầng trăng quầng lửa khá tiêu biểu. Trong ánh chớp nhoáng nhoàng của bom đạn, tiếng hát vẫn cất lên, mọi dấu hiệu của sự sống vẫn nảy nở. "Và vầng trăng, vầng trăng đất nước - vút qua quầng lửa vụt lên cao" - như là có một thoáng tượng trưng, nửa thực nửa hư, về đất nước, về chiến thắng như cùng trở về trong ta. Sức thuyết phục của bài thơ là ở cả một không khí được gợi lên khá trọn vẹn.
Không phải ngẫu nhiên, trong những năm chống Mỹ, thơ Phạm Tiến Duật thường được mọi người nhắc nhở. Đó là một tiếng nói trẻ, thứ tiếng nói mới trong thơ. Người làm thơ này bao giờ cũng coi bài thơ là một kiến trúc. Anh chọn được tình thế đáng nói. Anh biết nói một cách đặc biệt, thường lướt qua những chỗ lặt vặt, giành bất ngờ cho cái chốt chính, cái kíp nổ của bài thơ. Đọc thơ anh, dễ có những thoáng giật mình: sao có những điểm thi vị thế này mà không ai nhìn ra! Riêng cách đặt câu, dùng chữ trong bài đã chứng tỏ Phạm Tiến Duật là một người làm thơ có nghề nghiệp vững chãi đến độ dám đi ra khỏi một số khuôn sáo thông thường. Về mặt giọng điệu, nếu xưa nay thơ của nhiều người như một tiếng hát, thì Phạm Tiến Duật làm cách khác: Anh muốn trò chuyện với người đọc. Anh luôn luôn đi bên cạnh ta, thì thầm với ta điều kia điều nọ. Cách viết này mang lại cho tác giả một lối đi riêng, hợp với sức viết đang độ khoẻ. Cái tài hoa, cái khéo léo tay nghề, là tương ứng với cách cảm, cách nghĩ của anh và hai mặt đó gắn bó làm thành một phong cách thống nhất. Tại sao lại nảy sinh và tồn tại phong cách đó? Từ những năm chống Mỹ, trong bộ đội ta đã hình thành một lớp chiến sĩ mới, với cách sống, cách chiến đấu mới, dáng dấp tâm lý mới, có phần kế thừa mà có phần phát triển so với các thế hệ cha anh. Họ vẫn đọc những bài thơ của các nhà thơ lớp trước. Nhưng họ cần có tiếng nói của mình trong văn học. Thơ Phạm Tiến Duật là một trong những tiếng nói đó.
Có điều không nên cường điệu, coi thơ Phạm Tiến Duật là một mẫu mực, hơn nữa, một mẫu mực duy nhất cho tiếng thơ của cả thế hệ cùng tuổi với anh. Trên cái nền phát triển rộng rãi về mọi mặt của xã hội miền Bắc từ sau 1954, người chiến sĩ của chúng ta đã trưởng thành vượt bậc, với rất nhiều vẻ khác nhau. Để nói lên tiếng nói của họ, cần nhiều tiếng thơ khác nhau. Chỉ có thể nói Phạm Tiến Duật là một tiếng thơ trong đó với nghĩa nó có những chỗ mạnh chỗ yếu nhất định. Chỗ yếu quan trọng trong thơ Phạm Tiến Duật là bề ngoài bao quát được một hiện thực nhiều mầu sắc, song vẫn có cái vẻ đơn điệu của nó. Đây đó, một vài bài thơ dường như chỉ khác nhau về đề tài, về khung cảnh, về cách nói, mà ý tứ thì lặp lại. Thực tế lớn lao quá! Có lúc, tác giả như bị ngợp: Anh chỉ kịp làm những đoạn "ống kính chụp nhanh" mà chưa có sự cảm thụ và chuyển hoá sâu sắc. Thường khi anh chạy theo những thay đổi ở bề ngoài khung cảnh mà quên lắng nghe đúng mức về những phản ánh, những vang vọng của mọi thay đổi đó trong lòng, để sự kiện có dịp hoà cùng nhịp điệu với lòng mình. Cũng như nhiều người viết trẻ khác, một số khái quát ở Phạm Tiến Duật hoặc không sáng rõ, hoặc rơi vào chỗ đơn giản, sơ lược. Niềm vui mà anh gợi lên có phần dễ dàng, nhưng lại chưa thật sâu lắng. "Say miền đất lạ", anh đâm ra sa đà vào những cái ngồ ngộ, kỳ lạ, rồi tự bằng lòng, cười đùa vui vẻ mà không thấy hết những cái mới cơ bản trong khung cảnh và trong lòng người. Trong đời sống cũng như trong văn học, kinh nghiệm cho biết chưa bao giờ những cái ngồ ngộ đó có khả năng biểu hiện những điều quan trọng nhất. Cũng như về mặt cách viết, khi nào cố làm ra vẻ đơn giản. Phạm Tiến Duật lại rơi vào một sự sắp xếp, thành ra một thứ sáo mới, muốn làm duyên hơn là có duyên thật sự. Lẫn với cái thô mộc chân chính; một đôi khi sự qua loa cẩu thả đã xuất hiện trong thơ anh.
Bấy nhiêu chỗ yếu chỗ mạnh nói trên cố kết lại hữu cơ trong thơ Phạm Tiến Duật. Anh là người có bản sắc mạnh mẽ, bản sắc không giống ai, nên rất khó thay đổi. Mà có thay đổi, thì vẫn là đổi mới trong cung cách của mình. Cho nên, hơn cả nhưng đóng góp cụ thể, nên tìm ở thành công của anh một ý nghĩa khái quát: Nó là một bằng chứng xác minh thêm cái phương hướng lớn, phương hướng đi vào đời sống của nền văn nghệ mới. Thực tế dân tộc ta nói chung, thực tế bộ đội ta nói riêng là nguồn cảm hứng vô tận đủ sức nuôi dưỡng những tài năng lớn và khác nhau. Đó là điều lâu nay chúng ta vẫn nói. Đặt trong cái toàn cảnh đó, thơ Phạm Tiến Duật mới là một trường hợp, một thí nghiệm. Triển vọng của nó ra sao còn tuỳ thuộc ở sự phấn đấu của riêng người viết. Nhưng có điều chắc chắn: khi được phổ biến, ngay từ bây giờ nó đã là một gợi ý, một kích thích tốt cho những tiếng nói bằng thơ khác đang tiềm tàng trong lớp người trẻ tuổi đang cầm súng.
1971
Ý NGHĨA CỦA MỘT PHONG CÁCH
Những người mới quen giới văn nghệ nhiều lúc có cảm tưởng rằng những người viết có phần khắt khe: người ta khen nhau ít quá. Thực ra thì "nằm trong chăn mới biết chăn có rận" người nào tỉnh táo một chút khi nói về ngành mình cũng đều có nhiều băn khoăn lo lắng. Có lo lắng, băn khoăn thì mới biết hướng phải đi, biết đường mà phấn đấu. Nữa là đây lại là công việc văn nghệ, một thứ thực tế thứ hai, một thứ phản ánh của đòi sống, bao giờ cũng ít nhiều đi sau đời sống. Chúng ta hiểu đời sống thì lớn lao, cái phạm vi mà văn nghệ phải bao quát thì vô cùng, công việc trước mặt mình thật nhiều, đường xa mòn mỏi. Chúng ta trông ở nhau để làm việc, để sốt ruột hộ nhau, cũng là để thúc đẩy nhau tiến lên hơn nữa.
Nhưng trong đời sống, những điểu cực đoan lại hay đi với nhau. Người ròn cười thì cũng tươi khóc, người hay nghi ngại khi tìm được tri kỷ thì hết sức tin yêu. Đó cũng là quy luật của sự khen chê trong văn nghệ: giữa lúc mọi người đang bối rối, đang lo toan, bỗng nhiên một người mở ra được đường đi, vạch thêm được một lối thoát, thì mọi người đều hỉ hả vui mừng. Người ta không chỉ vui mừng cho chính người kia. Người ta vui mừng vì một khả năng của thực tế được phát hiện. Người ta vui mừng vì tương lai chung còn sán lạn, mình còn có hướng để phấn đấu. Người ta tìm được chỗ mà tin yêu.
Nghe các anh nhà văn lớp trước kể lại, tôi thường cố tưởng tượng khung cảnh chào đón những sự kiện lớn của đời sống văn học ta từ hơn hai chục năm nay, khi mà những giải thưởng văn học lớn được công bố. Khi những tác phẩm có tính chất cổ điển như một Đất nước đứng lên ra đời. Nhưng riêng trong năm 1969, năm thứ năm của cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và năm thứ 15 của cuộc đấu tranh vì thống nhất nước nhà cùng một thời gian, tôi được chứng kiến sự chào đón của giới văn nghệ với hai tác phẩm đặc biệt: mấy chương đầu tiểu thuyết ở xã Trung Nghĩa của nhà văn miền Nam Nguyễn Thi và chùm thơ dự thi trên tờ báo Văn nghệ của Phạm Tiến Duật. Trong một năm mà tìm được một ít chương truyện với một chùm thơ hay, thế đã là hiếm hoi lắm. Riêng trong phạm vi thơ mà nói, cho đến cuộc thi thơ vừa qua, thơ Phạm Tiến Duật là trung tâm chú ý của tất cả mọi người. Các nhà thơ lớp trước đã không ngại dùng những chữ như "tài năng", "hiện tượng". Điều đó chứng tỏ thơ Phạm Tiến Duật vượt qua phạm vi thơ già- thơ trẻ, mà là một hiện tượng riêng, đòi hỏi mọi người phải nghiên cứu. Còn những người viết trẻ thì vui mừng cách khác. Đây lại là một trường hợp chứng tỏ khả năng của lứa mình. Người ta thấy những triển vọng mở ra: nếu mình được đi được làm việc, mình cũng sẽ có những đóng góp như thế. Ngay cả những người viết văn xuôi, ngoài cái sự "thẩm thơ" rất ngược văn xuôi, nhiều anh vẫn cảm thấy trong các thứ thơ, thơ Phạm Tiến Duật gần với thể loại của mình hơn cả, và mình có thể có những liên tưởng nhất định, giúp cho nghề nghiệp riêng của mình nhất định, khi đọc những bài thơ của tác gải trẻ này.
Chẳng riêng giới văn nghệ: nhiều người ở các ngành khác, đông đảo bạn đọc của chúng ta đã hỏi thăm về những bài Gửi em cô thanh niên xung phong. Tiểu đội xe không kính v.v… Khi cùng đi những chuyến đi công tác ở cơ sở với tác giả các bài thơ ấy, tôi đã được chứng kiến những cảnh làm xong thơ, anh mang ra đọc cho mọi người. Anh chăm chú nghe ý kiến trao đổi của một đồng chí cán bộ chính trị. Anh sung sướng nhận lời khen của một bà cụ già. Anh thường đọc thơ ngay cho những đối tượng thơ mình nói đến để chờ người ta góp ý kiến trực tiếp. ở những cửa khẩu, những trọng điểm vận tải quân sự, anh chép thơ của mình thành nhiều bản nhỏ, dúi vào tay các đồng chí lái xe, như một lời dặn dò tin tưởng giúp họ thêm nghị lực đi vào vùng địch đánh phá. Tôi biết rằng không phải người làm thơ nào cũng có gan làm như thế, và không phải thơ nào cũng có sức đi vào lòng nhiều người khác nhau như thế. Trong sự đa dạng nhiều màu sắc của thơ, thơ đã có sự phân công nhất định: có thứ thơ cho lứa thanh niên cuối cấp hai, đầu cấp ba đọc. Có thứ thơ cho những anh em sinh viên, anh em trí thức. Dĩ nhiên, có thứ thơ hợp với một số bà con ta quen nghe đài vào những buổi phát thanh nông thôn hơn. Xưa nay, thứ thơ được nhiều tầng lớp khác nhau thích vốn hiếm: hoặc là dở, hoặc là thật hay. Thơ Phạm Tiến Duật rồi sẽ chịu sự sàng lọc gắt gao của thời gian; tuy nhiên, ngay từ bây giờ, nó đã chứng tỏ khả năng phổ cập rất rộng, phổ cập mà vẫn không rơi vào thơ ca hò vè "tỉnh lẻ" cho nên càng dễ có khả năng sống lâu - phổ cập, dễ hiểu mà vẫn sâu sắc, hàm xúc vốn là một yêu cầu của văn nghệ nói chung, lại là một yêu cầu rất cao trong văn nghệ xã hội chủ nghĩa.
*
Ngay từ cuối năm 1966, trong giới thơ chuyên nghiệp của chúng ta đã có một cuộc trao đổi ý kiến về thơ chiến đấu. Thường chúng ta bận nhiều việc quá, cứ lo làm tới làm lui, chưa có những tổng kết kinh nghiệm, đúng hơn là chưa có những tổng kết có sức thuyết phục mạnh mẽ. ở một nước mà lịch sử là chống ngoại xâm liên tiếp như ở nước ta, đặc diểm của nền văn học là gì? Nền văn học nói về chiến tranh ra sao? Người văn nghệ trong các cuộc chiến tranh đã có những đóng góp gì? Vẫn chưa có những nhận xét cụ thể. Ngay sau cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc 1946-54, chúng ta cũng chưa có dịp bàn luận cho kỹ càng, thì đã bước vào cuộc chiến đấu mới. Đành là vừa làm vừa mò mẫm. Đành là có những nhận xét vụn vặt từng người từng trường hợp, để rồi lại tiếp tục làm mạnh hơn. Có một điều chắc chắn là: mặc dầu vậy, văn nghệ có những quy luật phát triển của nó, có những quy luật nội tại của văn nghệ mà cũng là những quy luật gắn liền với tình hình xã hội chính trị nói chung. ứng với mỗi giai đoạn có những phong cách văn học nổi lên, nó phản ánh những yêu cầu tâm lý chung, và sự tiếp nối của phong cách này bằng phong cách kia bao giờ cũng có tính chất tất yếu. Riêng trong phạm vi tiếng thơ của thanh niên, thơ của các bạn trẻ mà tôi thường đọc và tìm ở đó tình cảm ý nghĩ của mình chẳng hạn. Những ngày đầu chiến tranh, cuối 1965, đầu 1966, tôi rất yêu những câu thơ của một bạn trẻ là Lưu Quang Vũ.
Ta đi chiến đấu yêu thương lắm
Mỗi xóm thôn qua, mỗi nghĩa tình.
Cả dòng thơ Lưu Quang Vũ là một tiếng tâm tình tỉ tê tâm sự và thương yêu như thế. Cho đến những ngày 1967, 1968, tôi mới lại gặp một tiếng thơ khác đi
- Đi qua những chiến hào ta nhìn ra hạnh phúc
Đôi mắt nhìn nhau xanh hơn xưa
- Tự những năm ai cũng hoá anh hùng
Sẽ rèn đúc ai cũng đều nhân hậu
Thay cho cái bỡ ngỡ tin yêu là cái cần mẫn nhận thức trong thơ Bằng Việt. Tập Bếp lưủa ấy là một tập thơ suy nghĩ như ta vẫn nói. Bây giờ thì các bạn thơ ấy của tôi vẫn đang phấn đấu theo đường của mình. Nhưng cũng không hiểu tự lúc nào, một tiếng thơ khác xen vào, và dần dần có sức lay động tâm hồn chúng ta: mọi nguời vui mừng vì lại có thêm Phạm Tiến Duật. Chưa bao giờ trong thơ lại có nhiều chi tiết sinh hoạt như thế. Anh nói về những tiểu đội xe không kính, anh nói về các cô thanh niên xung phong đóng cọc dào rào quanh hố bom: anh nói về cái quệt nước trên xe ô tô những ngày mùa mưa ở Trường Sơn. Mà vào trong thơ những chữ nghĩa mới, khung cảnh mới, người đọc thơ như được làm một cuộc viễn du. Phạm Tiến Duật dẫn ta đi, anh có thơ về mọi bước đường của anh, mà cũng là mọi bước đường của cuộc chiến đấu hiện nay.
Khi nói thơ Phạm Tiến Duật nói được những cái cụ thể hàng ngày, những người làm thơ hiểu ngay khó khăn của anh: đưa những cái này thành thơ, người viết phải nói có duyên lắm
Cây trúc làm duyên phải nhờ gió thổi
Cô gái làm duyên phải dùng giọng nói
Bông hoa làm duyên phải luỵ hướng bay.
Phạm Tiến Duật đã ví quả ớt như ngọn đèn tín hiệu, vết xước trên vai áo của cô thanh niên bốc vác hồn nhiên như bông hoa lan trắng ngần.
Cái duyên nói nghe lọt tai của anh là nhờ anh có tình với những gì mà anh nói tới. Tình của một người tuổi trẻ, hồn nhiên đang mở rộng tấm lòng ra để thương yêu, có khi như là trêu đùa bỡn cợt nữa. Về phương diện này, một bài như tài Gửi em cô thanh niên xung phong rất tiêu biểu. Tôi nhớ cách nói của một nhà văn: Có lẽ đã nhiều người ca ngợi thanh niên xung phong họ dùng nhiều chữ nghĩa kêu hơn, mạnh hơn trong lòng họ. Còn hồn nhiên như bông hoa lan trắng ngần là người ở trong cuộc, anh mến yêu những người con gái ấy một cách rất cụ thể.
Thương em, thương em, thương em biết mấy.
Thương để rồi đi tìm, thương nên mới trêu, đùa, như là bỡn cợt nữa, cái bỡn cợt duyên dáng vốn rất cần sau những giờ phút làm việc mệt nhọc, vốn là một bản tính của những người lao động chúng ta.
Theo chỗ tôi hiểu, không phải hồn nhiên như bông hoa lan trắng ngần là người đầu tiên chủ trương đưa cái thực tế với những chi tiết nhỏ nhất của nó vào thơ ca. Có cả một nhà thơ chủ trương trong những bài tiểu luận quan trọng và anh đã mạnh dạn cắt bỏ những bài thơ theo một dọng điệu khác, để dễ xuống một thứ thơ như thế này. Trong số các bạn viết thơ trẻ, cũng đã có người nói thơ anh như công trường lúc nào cũng dở dang gạch ngói. So với những người ấy, thì thơ Phạm Tiến Duật có duyên hơn. Nếu cắt nghĩa rằng như thế, Phạm Tiến Duật có tài hơn thì chưa đủ. Bao giờ cũng thế ở trong văn học, cái tài bắt nguồn từ cái tình. Nhất là trường hợp lối thơ thực tế này, người viết phải có tình với đối tượng mà anh nói tới lắm mới phải.
Từ những đối tượng cụ thể, rồi anh sẽ nâng lên thành những vấn đề tư tưởng. Đã bao người làm thơ Đèo Ngang - Mà không nói con đèo chạy dọc" ấy là một câu thơ trong bài Đèo Ngang. Nó cũng là một ví dụ về tính tư tưởng trong thơ. Từ những điều rất bâng quơ mà nâng lên thành những chuyện chính trị, triết học cao siêu; nâng lên, nhấn mạnh, gói ghém trong đó, mà người ta không cảm thấy một cách gò gẫm, giả tạo, hoặc lên gân khó chịu. Trong đời sống, chúng ta vốn sợ những người lúc nào cũng ra vẻ ưu tư phiền muộn mà nói ra toàn những điều sách vở: người ta gọi những anh chàng kiểu đó là lý luận rởm, kiểu cách, gàn. Còn thỉnh thoảng ta mới gặp những người mà ung dung như không, nói cười ha hả, những nhận xét cái gì thì hết sức sâu sắc, cụ thể. Một sự thông minh có tính chất dân gian như thế rất tiêu biểu cho người Việt Nam chúng ta.
Không làm ra vẻ suy nghĩ, nhưng hồn nhiên như Phạm Tiến Duật vẫn muốn nói một điều gì đằng sau những cái hàng ngày. Đó là một cố gắng phấn đấu của anh, và có những trường hợp, anh đã thành công. Khi nói về Chuyện lạ gặp trên đường hành quân những dấu vết mà người chiến sĩ gặp ở Trường Sơn, một dấu voi đi, một cái bi đông những người anh Nam Tiến trước kia để lại, Phạm Tiến Duật muốn nói về sự tiếp nối của lịnh sử dân tộc. Còn những công việc bình thường hôm nay, dưới mắt anh, đều có ý nghĩa lịch sử - đó là trường hợp bài Công việc hôm nay. Lửa đèn có những đoạn nói về ta và địch vốn là rất khó nói mà Phạm Tiến Duật đã nói được. Cái đoạn cuối nó về ánh đèn chiến thắng ngày mai của anh xứng đáng là kết thúc cho một bài thơ vững chãi về toàn cục. Đây là cái bỏ nhỏ ở cuối bài Tiếng bom ở Seng Phan:
Thế đấy, giữa chiến trường
Nghe tiếng bom rất nhỏ
Nhưng có phải đó cũng là nhận xét chung của mọi người, ở những chiến trường khác nhau? Cũng rất tự nhiên là ở cuối bài Vầng trăng và những quầng lửa (Tạp chí Văn nghệ quân đội 12/1969), sau khi tả rất nổi những quầng lửa chiến đấu, Phạm Tiến Duật vẫn cho bao trùm một ánh trăng:
Và vầng trăng, vầng trăng đất nước
Vút qua quầng lửa, vụt lên cao
XUÂN SÁCH

CHÂN DUNG NHÀ VĂN của Xuân Sách
& một thời văn nghệ
Những nét sinh hoạt của những người cầm bút thời nay đã được nhiều người trình bày lại một cách tự nhiên, trong số này giỏi nhất phải kể Tô Hoài. Ông gỡ đi phần hào quang chói lọi mà người ta hay lấy ra để lãng mạn hóa các nhà văn. Ông làm cho cái nghề gọi là sáng tạo này gần gũi với đời thường. Chỉ ông mới dám đưa Nguyễn Tuân vượt ra ngoài cái thiêng liêng giả tạo để trở về với những chuyện mè nheo hàng ngày, mà vẫn không vì thế mà làm mất đi vẻ đáng yêu đáng kính của cụ Nguyễn. Từ trường hợp Nguyễn Văn Bổng, Tô Hoài làm nổi tính chất nghiệp dư của một nền văn học. Chút thoáng điên điên khùng khùng của Võ Huy Tâm mà ông nói tới được người ta tin, vì bắt nguồn từ những quan sát thực và mở đường cho sự cắt nghĩa vận mệnh ngắn ngủi của nhà văn này. Những trang chân dung Trọng Hứa cho ta thấy trong mỗi con người còn bao nhiêu mày nét khía cạnh vừa chân thành đáng yêu vừa nhởn nhơ phù phiếm.
Tôi học theo cách làm của Tô Hoài khi viết về một người thày như Nhị Ca, một người bạn như Nghiêm Đa Văn.
Ở buổi hoàng hôn của cuộc đời, tôi lại nghĩ nhiều về Xuân Sách.
XS là một đặc sản kỳ lạ của giới cầm bút HN những năm chống Mỹ và vài chục năm tiếp sau đó. Người nổi tiếng trong giới xưa nay là người có tác phẩm, hoặc các quan chức. XS không có cái đó, chỉ có một ít bài thơ chân dung, khắc họa số phận hàng loạt nhà văn đương thời.
Vậy mà người ta luôn phải nhớ đến ông. Giữa đám đông chúng sinh, chỉ cần đọc lên vài dòng chân dung là không thiếu kẻ bị hút hồn. Các nhà văn vốn có thói quen ích kỷ tự nhiên bị chạm nọc. Người ngoài cuộc nghe rồi vẫn muốn nghe lại. Trong khi nói tới một người cụ thể nào đó, thực ra Xuân Sách đang nói tới cả giới.
Thay cho hai chữ tài năng, ta nên nói tới khái niệm: những cách tồn tại trong văn học
Theo tiêu chuẩn này thì XS đã tìm thấy mình thật
Tồn tại như một người viết về đồng nghiệp – đó là XS. Trong văn học hiện đại dễ không mấy người có kiểu
Những năm chiến tranh, tôi đã sống với con người này trong một cơ quan theo cái nghĩa 24/24. Tức là làm việc và nghỉ ngơi trong cùng một doanh trại. Có thể ghé vào phòng nhau bất cứ lúc nào. Gần như suốt ngày trông thấy mặt nhau.
Qua ông tôi muốn ít chuyện đời thường của giới văn chương
Từ truyền thần đến truyền khẩu
Tất cả những bài viết về Xuân Sách đều nhắc tới những bài thơ được in trong tập Chân dung nhà văn của ông. Đến nỗi khi thấy Tuổi trẻ bỏ qua chi tiết này, mạng Diễn đàn lên tiếng thắc mắc.
Vậy thơ chân dung là gì ?
Việc mang tên tuổi, tính nết và công việc của các đồng nghiệp ra mà chế giễu vốn là một thú vui có ở mọi nghề. Sự đời lắm vẻ, mỗi chúng ta dù có cố gắng đến mấy cũng chẳng bao giờ vừa lòng với nó. Huống chi lại còn bao nhiêu bực bội khó chịu nảy sinh hàng ngày, nếu như không có nụ cười thì sống sao nổi!
Mà các đối tượng mình hiểu sâu nhất để rồi dễ mang ra cười cợt nhất, và giá có cười quá to, cười sỗ sàng một chút, cũng dễ được tha thứ nhất, ấy vẫn là các đồng nghiệp. Giá như ai có để công sưu tầm, chắc sẽ làm thành những bộ sách lý thú, đại loại nụ cười viên chức, nụ cười nghề y, nụ cười nhà giáo.
Thế nhưng nói chung nhiều người vẫn thường có cảm giác rằng sự đùa bỡn chế giễu nhau trong giới cầm bút là phổ biến hơn. Tại sao?
Một là ở đây người ta dễ nhận xét nhau đau hơn, ác hơn, điểm huyệt đích đáng hơn; và hai là một đôi khi, nó lại được đưa lên mặt giấy, và dù in chữ nhỏ, in vào chỗ khuất đến mấy, mọi người đều tìm dọc - báo ngày hôm nay đã vậy mà báo ngày xưa cũng vậy.
Có lần tôi đã chép được một loạt thơ chân dung kiểu này trên báo Ngày nay. Vào thuở đang thịnh, Tự lực Văn đoàn của các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng... nổi lên như một tổ chức văn học đầy uy tín tới mức họ thường xuyên đùa giỡn trước mặt mọi người, “xoa đầu’ anh em trong giới. Nhân một số báo xuân, Lê Ta (Thế Lữ) cùng Tú Mỡ mở mục Minh niên giáng bút, mượn lời một bà già khăn chầu áo ngự để “phán” về các đồng nghiệp... Theo chính Lê Ta và Tú Mỡ nhấn mạnh thì trong “lời phán” này” có những chữ, hoặc những nghĩa, hoặc những ý tứ có liên quan đến tên tuổi, đến tâm tính hay công việc của từng người”. Bởi vậy, mặc dù không chỉ đích danh, song đọc lời “phán” mọi người ai cũng đoán ra ngay người được “phán”.
Dưới đây là một ít câu Minh niên giáng bút loại khá nhất.
Tam Lang
Tưởng người cùng xóm văn chương
Học đòi lại muốn theo phường kéo xe
Nhưng thân phục phịch nặng nề
Kéo xe chẳng nổi quay về kéo... văn
Hoặc cũng châm chọc, nhưng chưa đến nối ác ý quá đáng:
Lê Văn Trương
Nói năng hùng dũng hơn người
Khôn vì xuôi ngược đã mười năm xưa
Đầu làng sức mạnh có thừa
Vỗ vào ngực thét: tôi thờ trái tim
Lưu Trọng Lư
Cái tên này cũng đáng ngờ
Ấy bình hương khói hay lừa nặng cân
Làm thơ giàu điệu nghèo vần
Ra đời với bác sơn nhân độ nào
Lan Khai
Tên đâu trái ngược lạ đời
Là hoa mà lại có mùi... chẳng thơm
Tài trông anh Mán phi gươm
Chú Mèo lãng mạn, cô Mường ngâm thơ
Lan Khai
Tên là Lan ở trên đời
Chẳng thơm hẳn đã có mùi khai khai
Viết văn kể chuyện dông dài
Ở trên mạn ngược làm vui đường rừng
Các vần thơ này là phải sử dụng được những gì liên quan đến tên tuổi và tên các tác phẩm của người được nói tới.
Tuy nhiên đó mới là điều kiện tối thiểu. Nếu chỉ dừng lại ở một vài chi tiết hóm hỉnh đọc lên nghe cũng vui vui thì chúng ta chưa thể thích được hoặc chỉ là cái thích nông nổi. Đây cũng là chỗ dừng của Minh niên giáng bút.
Trong đời sống văn học Hà Nội nửa sau thế kỷ XX, số chân dung viết linh tinh cũng nhiều vô kể. Trong số này chỉ có một số ít đạt tới mức sâu sắc với nghĩa truyền thần được đối tượng, điểm trúng huyệt họ, bóc mẽ lật tẩy được cái gì mà họ muốn che giấu. Và người viết cũng nhân tiện mà viết, làm cho vui , chả ai coi là việc nghiêm chỉnh .
Bề ngoài cuộc sống của chúng ta khá nghiêm túc, thân ái đoàn kết giúp đỡ nhau. Nhưng bên trong cũng có đủ chuyện kèn cựa ghen ghét đố kỵ không ai phục ai, hàng thịt nguýt hàng cá, thấy ai viết hay thì chê ủng chê eo, còn thấy người khác bị đòn thì chưa biết nếp tẻ ra sao ai ai đúng, hãy vô tay hoan hô cái đã.
Khi người lẫn với ma -- nói như chữ của Tô Hoài -- thì việc gọi ra chất ma ở kẻ khác là cả một điều an ủi.
Viết về Nguyễn Tuân
“Một mắt lư đồng một mắt cua
Chém treo ngành toàn chém a dua
Hà Nội đánh Mỹ giỏi, thua bác
Cả đời ăn phở chẳng cần mua...
Xuân Sách đi xa hơn cả với nghĩa làm được nhiều và nhất là có những chân dung
Thử làm một so sánh. Cùng viết về Nguyễn Tuân, của Lê Ta và Tú Mỡ
Nghe vang theo bóng một thời
Tên này thực biết vâng lời người trên
Bây giờ gần gụi ả phiền
Hỏi han câu chuyện ngọn đèn dầu ta.
của Xuân Sách
Vang bóng một thời đâu dễ quên
Sông Đà cũng muốn đẩy thuyền lên
Chén rượu tình rừng cay đắng lăm
Tờ hoa lại chuốc lệ ưu phiền
Cùng viết về Nguyễn Công Hoan, của Lê Ta và Tú Mỡ
Rằng tên thì thực là vui
Nụ cười thoang thoảng có mùi ngang ngang
Vai hề to tiếng hý trường
Ở trong động quỷ là phường ranh ma
Của Xuân Sách
Bác kép Tư Bền rõ khéo vui
Trời còn chưa sáng bác nhầm thôi
Bới tung đống rác nên trời phạt
Trời phạt chưa xong bác đã cười
Một cách tồn tại trong nghề
XS người thấp, dáng đi chắc chắn. Mắt sáng, trán cao, đầu nặng như ẩn chứa một cái gì không thoát ra được. Hình ảnh tôi nhớ nhất về anh khi cùng sống ở 4 Lý Nam Đế, ấy là những lúc anh tập trung suy nghĩ. Chuẩn bị cho trang viết, nhà thơ trầm ngâm đi lại, như bị thu hút hoàn toàn vào một điều gì đó. Hay những lúc ấy anh đang bí? Có thể lắm. Nhưng không sao. Khi đã nghĩ kỹ rồi, Xuân Sách viết rất nhanh, bản thảo sạch sẽ tươm tất, mà theo anh kể, chỉ thua có Phù Thăng.
Hồi VNQĐ sơ tán ở Thạch Thất Hà Tây, Xuân Thiều và Nguyễn Minh Châu ở cùng nhà một cụ già là gia đình cụ Quàng, một ông cụ có cái tính chung của người mình là hay để ý vặt. Chắc là nhiều lần trong khi dọn dẹp, ông cụ đã ngắm nghía cách viết của hai nhà văn khoác áo lính. Một lần cụ đột ngột tung ra một khái quát khiến chúng tôi khi nhắc lại, cùng cười lăn cười lộn:
-- Văn bác Châu không bằng văn bác Thiều. Văn bác Châu hay dập xóa. Văn bác Thiều sạch sẽ hơn, đọc được ngay.
So với Xuân Thiều bản thảo XS lại còn suôn sẻ hơn. Nó là dấu ấn của một người tự tin và cũng dễ bằng lòng với mình.
Đều đặn, chân phương, biết thân biết phận, nhưng lại có chút gì đó hơi hèn hèn thế nào … đấy là tinh thần toát ra qua nét chữ ở cuốn chân dung nhà văn đã in ( thông thường bản thảo đưa xuống nhà in là qua đánh máy ; lần này Xuân Sách đã viết trực tiếp rồi chuyển cho Lữ Huy Nguyên )
Phần lớn các nhà văn công tác ở tạp chí Văn Nghệ quân đội sinh năm 1930. Đặt bên những người này Xuân Sách chỉ kém hơn có hai ba tuổi.
Nhưng sao so với họ, tôi cứ cảm thấy anh lép vế rõ rệt. Phần thì tại anh về sau, tức là mãi 1960 mới gia nhập tập thể này, mà đó là lúc tất cả đã định vị.
Và cái chính là anh thiếu một tuổi trẻ oai hùng.
18 tuổi Hồ Phương có Thư nhà, 22 tuổi Nguyên Ngọc có Đất nước đứng lên. 27 tuổi Nguyễn Khải có Mùa lạc. XS thì sao? Lớp trẻ gần đây nhắc tới anh, bảo đã có đọc Đội du kích thiếu niên Đình Bảng ( in lần đầu 1971) của anh từ nhỏ. Nhưng tôi biết các đồng nghiệp trong cơ quan chẳng ai nói một câu nào về cuốn sách đó cả. Mà lúc đó anh cũng sắp sửa sang tuổi 40
Xuân Sách hiểu điều đó. Nó tránh cho anh cái lồng bồng trôi nổi ngược lại sớm có cái gọi là biết thân biết phận. Cái nhìn đằm hơn về thế sự. Sự thông cảm dễ dàng với những cái tầm thường. Khả năng đơn độc trên con đường mình chọn cho riêng mình …
Về sau này khi đã nổi tiếng, niềm kiêu hãnh ở XS nhiều khi có trở thành quá đáng, nhưng tôi biết nó chẳng qua chỉ là sản phẩm của người đã tự ti quá lâu, ngụp lặn trong sự vô danh quá lâu, mà lại thừa thông minh để biết rằng thực ra mình chẳng kém gì người đời .
Cảm giác mức độ đến sớm giúp cho XS yên lặng làm những công việc bình thường, nó là những việc bếp núc của một cơ quan báo chí thời chiến.
Trong chiến tranh, các nhà văn ở cơ quan tôi năm ấy có sự phân hóa. Đội cận vệ đỏ, những Hữu Mai Hồ Phương Nguyễn Khải Nguyễn Minh Châu càng viết càng ăn nhập với cuộc chiến. Lúc nào cũng có bao nhiêu đề tài đặt ra cho họ. Đi viết vừa nổi tiếng lại vừa có thu nhập cho gia đình – không ai nói ra nhưng ai cũng biết vậy.
Ừ thì cho rằng hồi ấy người ta nghĩ đến tiền một cách chừng mực không thành ám ảnh như bây giờ. Nhưng có đồng ra đồng vào rủng rỉnh vẫn hơn chứ?!
Còn như cái chuyện con gà tức nhau tiếng gáy, ai mà không biết.
Giữa thời trang sách lên ngôi, không ai muốn ngồi tổ chức các trang báo, đọc và chữa chạy các bài lai cảo, nói gọn lại là làm biên tập nữa. Bởi làm biên tập nghĩa là ngồi lo việc chung, vinh quang người khác hưởng, công lao mình thì chả ai biết.
Bấy giờ ban phụ trách phải trông chờ vào lớp sau, tức mấy người viết trẻ hơn và cũng phải nói thực là ít tài hơn.
Dường như sinh ra để làm việc này, Xuân Sách đặc biệt nổi lên ở mấy khía cạnh. Một là đa di năng gì cũng làm được; hai là tương đối biết người biết của, biết điều trong giao thiệp và không đến nỗi quá cứng trong quan niệm.
Xuân Sách đó, những năm cuối chiến tranh, trở thành cánh tay mặt của chủ nhiệm Vũ Cao. Hơn nhau chục tuổi, một già một trẻ làm với nhau hợp đến nỗi sau này khi được gọi ra nắm Nhà xuất bản Hà Nội( 1980) thì Vũ Cao kéo Xuân Sách ra làm phó. Mà đến lúc Vũ Cao về hưu thì Xuân Sách cũng vào luôn trong Bà Rịa Vũng Tàu để trụ lại ở đó cho đến những ngày cuối cùng của cuộc đời.
XS thích ứng với cái vai trò bắt gôn ở tờ báo như thế nào? Trước khi chuyển về VNQĐ, đâu anh công tác ở một đoàn văn công. Nhiều tài lẻ. Làm thơ viết văn gì cũng làm được. Anh biết làm nhiều việc mà người khác không muốn làm.
Việc làm báo tưởng như rất bận mà lại nhởn nhơ không đâu vào đâu. Tôi nhớ hình ảnh Xuân Sách trong cơ quan. Chẳng thấy anh viết lúc nào cả. Thỉnh thoảng thấy anh ra khỏi phòng trầm ngâm. Có lúc chúng tôi nói đùa, ông này viết như ăn vụng, tắc lẻm một cái là xong.
Người vợ đầu cùng sống với anh lúc đó là chị Thẩm.Tháng đôi lần thấy Xuân Sách xách cặp về phố Thắng với gia đình. Thưa hơn một chút, chị Thẩm và bọn trẻ con kéo xuống cơ quan. Ra chợ Bắc Qua hoặc chợ Hòe Nhai về, đóng cửa lại nấu nướng bằng bếp điện.
Sau bữa ăn trẻ con xuống nhà chơi. Những buổi chiều, trên cái sân xi măng dưới bóng mấy cây đại, gần nửa dân sống ở cơ quan “ họp chợ”, tức là tập hợp lại trao đổi thông tin, ai đi đâu có chuyện gì lạ kể hết, rồi trêu ghẹo đùa bỡn với nhau.
Cháu là Ngô Thị Vân Hoài
Con ông Xuân Sách
Ngồi lê đôi mách
Cháu cô Xuân Quỳnh
Nghiên cứu phê bình
Cháu cô Minh Mẫn
Lẩm cà lẩm cẩm
Cháu chú Thanh Tâm
Cám hấp cám hâm
Cháu chú Minh Tước
Để sau quên trước
Cháu chú Minh Châu
Không đâu vào đâu
Cháu cô Hồng Điệp
Lòng gang dạ thép
Cháu chú Văn Thảo Nguyên
Ăn nói huyên thiên
Cháu chú Phạm Tiến Duật
Bài vè đó đã phác ra một thứ chân dung nhóm nó là tinh thần của thơ chân dung sau này.
Ở các làng xóm xưa có những nho sĩ chuyên làm vè. Họ như ma xó, tức là không cần đi đâu mà chuyện gì trong cái “ hương đảng tiểu triều đình” cũng không qua khỏi mắt. Tầm hiểu biết của họ bao quát từ những vụ việc bê bối trong làng xóm tới các kiểu tính cách con người, những mối quan hệ. Với năng khiếu thiên về phúng thích (==châm biếm mỉa mai), những người làm vè nhậy với những gì cũ càng, héo hon, tan nát. Vượt quá lên nữa, đôi khi họ chạm tới cả sự vô nghĩa của kiếp người lẫn sự bất lực của cái cao sang cái tốt đẹp.
Xuân Sách là một con người như thế. Từ khoảng 1971 trở đi, anh đã là một tượng trưng của cái đời thường ở VNQĐ. Những năm chiến tranh, kỷ luật tuyên truyền rất ngặt nghèo, không khí lúc nào cũng căng như dây đàn. Đi đâu về, muốn hiểu chung về tình hình cơ quan, có chỉ thị mới gì cấp trên mới truyền xuống ai sắp được phân công đi viết về đâu ai viết cái gì cấp trên không bằng lòng -- tất cả những thông tin quan trọng mà lại không chính thức ấy -- phải hỏi anh. Cả chuyện chính trị nữa. Chiến trường lính tráng đang đánh giặc ra sao. Rồi ai hục hặc với ai, có đám hủ hóa nào mới bị phát giác ... chả có cái gì mà anh không biết.
Thú vị nhất là với từng cá nhân sự đánh giá của Xuân Sách là đáng tin cậy. Không chỉ thông minh sắc sảo hơn người, anh còn tổng kết được cái phần tinh túy trong ý của người khác mà làm nên ý kiến của mình. Và cách tổng kết của anh thì gọn gàng , có pha một chút thậm xưng, như những bức biếm họa mà người ta thấy ở báo chí văn chương nước ngoài
Những gương mặt khác nhau của một thế hệ
Những thơ chân dung văn học đầu tiên của Xuân Sách là hậu quả của thứ trò chơi trà dư tửu hậu .
Trên biển lớn lênh đênh sóng nước
Ngoảnh đầu về xóm mới khuất xa
Cỏ non nay chắc đã già
Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem
Bây giờ thì ai cũng biết đây là bài viết về Hồ Phương. Nhà văn này là một thứ ngọn cờ trong văn học thời kỳ đầu chiến tranh, một giá trị của thời chiến. Nhưng ngay lúc ấy nhiều người đã sớm nhận ra ở anh có sự phù phiếm của một người làm hàng. Đặt Hồ Phương vào giữa các nhà văn cùng lứa, người ta đọc ra nỗi thất vọng đến sớm của những người tưởng như thành đạt, song lại sớm rơi vào bế tắc. Xuân Sách dựa chắc vào những cái đó mà khái quát cái tình thế nghề nghiệp của cả một lớp người .
Chung quanh Hồ Phương có một chuyện vặt nữa mà cả cơ quan ai cũng biết, đó là thói quen làm việc vội vội vàng vàng băm băm bổ bổ (Vũ Cao cũng có lần nói đùa là cái ông này sáng sáng vừa nhá bánh mì vừa viết lia lịa!). Người khác còn mất công đi lại, Hồ Phương chỉ láng tráng vào B 5 gặp nhân vật một chút đã có ngay được Kan Lịch , hoặc vào khoảng 1966-67 không cần ra đảo như Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Khải, chỉ nghe một cán bộ Cồn Cỏ là Trần Đăng Khoa kể lại, mà cũng viết được một cuốn Chúng tôi chiến đấu ở Cồn Cỏ. Chất hãnh tiến của Hồ Phương sẽ được Xuân Sách ghi lại trong một bài khác, anh không đưa vào tập
Thuyền đã ghé bến quen Cồn Cỏ
Nhằm quân thù anh nổ súng ran
Dưới cờ của Đảng vinh quang
Kan Lịch ơi hãy nhịp nhàng tiến lên
Tính tính tính tang tang tang tiền
(Nhằm thẳng quan thù mà bắn là tên một truyện ký của Hồ Phương viết về Nguyễn Viết Xuân, còn Dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng là tên một hồi ký của tướng Song Hào, Hồ Phương ghi )
Theo hướng này Xuân Sách đã viết hai bài về Hữu Mai, cũng là một thứ chân dung sắc sảo
Hỏng đôi mắt đâu phải là mất hết
Khi trong lòng còn hồi ức Điện Biên
Có đồng đội anh sợ gì cái chết
Cao điểm cuối cùng quyết chí xông lên
Ơn Đảng Bác chắp cho đôi cánh
Phía trước là mặt trận rồi phải đánh
Dải đất hẹp này không một đứa ngóc đầu lên
Ôi những tháng năm không thể nào quên
Hai bài tập hợp gần hết tên các tác phẩm của Hữu Mai, và điều quan trọng hơn là bắt được cái chất lý trí cả quyết đầy tham vọng của nhà văn này. Đây là một điều không ai ở nhà 4 Lý Nam Đế lạ gì. Một mặt ai cũng khâm phục, ai cũng trân trọng -- nói cho cùng đây là đặc điểm chung của cả thế hệ, chẳng qua đến Hữu Mai nó bộc lộ rõ hơn. Nhưng mặt khác ai cũng ngài ngại. Liệu cái đó có làm nên giá trị văn học bền vững?!
Cùng với Nguyễn Khải Nguyễn Minh Châu, hàng ngày Xuân Sách, đã theo dõi hình ảnh các đồng nghiệp với một nụ cười kín đáo. Và sau nụ cười đó, có cả sự cảm phục lẫn sự nghi ngại.
Trong số các chân dung viết về người của nhà số 4 còn nên nói tới mấy chân dung nữa là Thanh Tịnh, Chính Hữu Phạm Tiến Duật.
Trong Thanh Tịnh, Xuân Sách bắt đầu chỉ ra nỗi buồn nói chung của kiếp người “ bao năm ngậm ngải tìm trầm-- Giã từ quê mẹ xa dòng Hương Giang…
Hình ảnh Chính Hữu dưới mắt Xuân Sách, có cả hai bình diện cái phần tiềm năng trong con người và cái phần phôi pha trôi nổi theo cuộc đời.
Khi viết về Phạm Tiến Duật khác với cái nhìn thông thường Xuân Sách đưa ra một cách đặt vấn đề khác đi về tác động của chiến tranh tới số phận các nhà văn , “ Đời đã tưởng bay lên vầng trăng – Lại rơi xuống chiếc xe không kính – Ra thế giữa chiến trường – Nghe tiếng bom cũng mạnh “. Tức là có cả mặt thuận lẫn mặt nghịch
Đọc lại những đoạn giáng bút tôi kể ở đoạn trên, người ta thấy Lê Ta và Tú Mỡ thường thất bại trong hai trường hợp :
Thứ nhất nhẹ tay với người nhà tức là các nhân vật Tự lực Văn đoàn. Trong văn thơ châm biếm, đã nhẹ tay, đã hiền lành, thì bao giờ cũng khó hay. Đây là những đoạn giáng bút làm nhàm, kém cỏi
Khái Hưng
Khá đem góp tiếng trên đầu
Ý mầu ai hiểu cơ mầu được đây
Hư không nào có ai hay
Ưng điêu chắp nối đổi thay khôn lường
Hoàng Đạo
Trong hàng lớn nhỏ từ xưa
Ra đời lại chọn đúng giờ xấu xa
Tinh khôn nay đổi lại giờ
Tâm tâm niệm niệm ấy là người hay
Cả hai đoạn này, chỉ dùng những biện pháp mang tính cách tiểu xảo, như tả Khái Hưng, dùng lối chiết tự, ghép chữ, tả Hoàng Đạo, nhắc tới lý do có liên quan đến hai bút danh Tứ Ly và Hoàng Đạo - nên cả hai đều lủng củng lại nhạt.
Thứ hai ngược với sự nhạt là trường hợp những bài thơ mang tính cách tư thù cá nhân xách mé thô lỗ. Khi tả về các nhân vật mà Tự lực Văn đoàn, từng có lần va vấp... lời thơ Minh niên giáng bút có phần chớt nhả, và đi gần tới xúc phạm.
Vũ Trọng Can
Gan to, gan nặng lạ lùng
Bởi vì trong óc hẳn không có gì
Thế mà cũng dám ti toe
Nói năng viết viếc để loè tài hoa.
Ngô Tất Tố
Gặp khi tắt lửa tối đèn
Mập mờ tài trắng hay đen hỡi tài
Vì ta phát giác ra ngoài
Mười năm hương lửa cũng hoài luống công
Ngọc Giao
Tên này mới quý làm sao
Còn văn thì chẳng bún nào mềm hơn
Tài năng nhũn nhẽo như lươn
Xui chàng yêu ả, chị hờn với anh.
...
Đọc những đoạn “giáng bút” này, người ta có thể hiểu tại sao đương thời, Tự lực Văn đoàn bị ghét: họ không công bằng. Và trong một số trường hợp họ tỏ thái độ bề trên - là điều tối kỵ trong quan hệ với các đồng nghiệp.
XS cũng không xa lạ với vết xe đổ đó. Cái đùa bỡn dễ dãi tầm thường thấy ở nhiều nơi như trong chân dung Nguyễn Khải, còn phần chọc ghẹo lảm nhảm xoa đầu đồng nghiệp thấy ở các bài viết về Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiều, Đỗ Chu
Giữa Nguyễn Khải và Xuân Sách có một mối giao tình kỳ lạ.
Nguyễn Khải năm đó nổi lên như cây bút số một của Văn Nghệ quân đội, tên tuổi nổi như cồn sau Tầm nhìn xa , Hãy đi xa hơn nữa, Họ sống và chiến đấu . Uy danh biến thành chức vụ, vừa bắt đầu chiến tranh thì Nguyễn Khải được bổ sung vào thường vụ Ban chấp hành Hội nhà văn, trong khi những Hữu Mai Hồ Phương chỉ là nhà văn quân đội thuần túy, ngay thành viên Ban chấp hành cũng chưa phải.
Chỉ riêng điều đó đã khiến cho mọi người vừa chơi với Nguyễn Khải vừa ngại. Trong sự bơ vơ của mình Nguyễn Khải tìm thấy ở Xuân Sách một người đối thoại lý tưởng.
Vốn thạo nghề, không phải Nguyễn Khải không biết thực chất những sáng tác của XS trong những năm chiến tranh. Có lần tác giả Mùa lạc nói riêng với tôi :
--Những tay viết lầm lầm lầm lầm rồi lúc nào đó, nó sẽ lên, nó sẽ thành nhà văn chân chính, như Xuân Thiều. Còn có những loại cứ bồng bênh suốt đời, mà không làm được việc gì, như Xuân Sách, loại này không bao giờ thành nhà văn cả.
Nhưng Nguyễn Khải là một tính cách rất mềm mại, ở chỗ bản thân không có quyền lợi gì thì anh hiện ra rất đáng yêu, khen ai mà không làm mất ở mình thì anh hào phóng ra mặt. Đi với ai cũng hợp, đi với ai anh cũng phát hiện ngay chỗ tương đồng giữa mình với người đó, dần dà tìm ra cách để gần gũi và khai thác đối tượng, cốt sao có lợi cho việc sáng tác.
Theo cách nghĩ này, nghĩa là với mục đích thực dụng, Nguyễn Khải xưa nay chưa hề ngán ai bao giờ cả.
Có cái may là về phần mình, trong khi cũng thông minh và thạo đời, Xuân Sách lại chẳng bao giờ tính chuyện ngang hàng Nguyễn Khải. Mà còn cảm thấy may mắn, mà còn tri ân, cả ở chỗ riêng tư lẫn trước mặt mọi người. Chỉ riêng điều đó đã khiến tác giả Xung đột bằng lòng lắm rồi.
Khi viết về Khải, Xuân Sách cũng không ra ngoài cái lệ “ làm đĩ chín phương cũng phải để một phương lấy chồng ‘’—nguyên tắc cư xử ở đời là vậy.
Những chân dung Xuân Thiều, Nguyễn Minh Châu, Thu Bồn, Lê Lựu … thuộc vào một loại riêng trong kho hàng của Xuân Sách. Chúng được truyền tụng rất nhiều. Mỗi khi đọc lên, sự khoái khẩu tới với người ta, một sự khoái khẩu kiểu truyện cười dân gian tức là đồng nghĩa với cảm giác được chế nhạo được xoa đầu người khác.
Tuy nhiên từ đó lại thấy hiện ra một người viết chân dung tầm thường hay soi mói và nhìn mọi thành tựu bằng con mắt hằn học. Nó là cái bệnh chung ở nhiều người. Nó cũng là ấn tượng mà tôi thường thấy gợn trong đầu mỗi khi nhớ Xuân Sách.
Tệ nhất trong loạt bài này là mấy câu viết về Nguyễn Minh Châu. Nó lắp ghép một cách tầm thương mấy cái tên tác phẩm, và có vẻ như tác giả viết cho xong thì thôi.
Nhưng ban đầu bài viết còn có giọng khinh mạn ra mặt Cửa sông cất tiếng chào đời – Đã ti toe những vùng trời khác nhau --Dấu chân người lính in mau—Thằng này không trước thì sau cũng tù
Điều này liên quan đến thói ghen ăn tức ở mà người ta thấy không hiếm trong giới.
Tài năng trong văn học là một khái niệm quá rộng. Bảo một người như XS không có tài cũng không phải. Trong Xuân Sách có chất gì đó của những ông đồ tân thời, chữ Hán biết một ít, chữ tây biết một ít. Đó là cái tài hợp với những làng quê, những phố huyện, nó cũng là rất thích hợp cho yêu cầu tuyên truyền.
Nhưng so với cái mặt bằng của VNQĐ những năm ấy thì XS thuộc về một cái gì hơi thấp.
Một mặt chúng tôi biết rằng thứ sáng tác của anh rất cần cho báo. Nhưng mặt khác thì nhiều người vẫn cứ không bằng lòng ở Xuân Sách chỉ là sự dễ dãi trong lao động nghệ thuật.
Một lần Hữu Mai cười cười nói với tôi.
--Bây giờ cái ông Xuân Sách như con gà đẻ lang ấy, đẻ bụi đẻ bờ khắp cả mọi nơi .
Trong lời giễu của Hữu Mai có hàm cái ý Xuân Sách viết nhiều viết ẩu.
-- Nó là một kiểu văn tài đấy! Nguyễn Minh Châu, dè dặt hơn bảo với tôi như vậy. Tôi thắc mắc :
-- Người ta nhất là người viết, có những mặt phải điếc đi một ít, thì mới hòng viết được. Đằng này cái thằng Xuân Sách này cái gì cũng hay, chuyện gì cũng thạo, gái cũng giỏi, chính trị cũng tinh vi, thế thì đầu óc đâu mà viết nữa.
Trong cơ quan tôi hồi ấy còn có một ca đặc biệt là Mai Ngữ. Con người hết sức từng trải. Là người đã từng ở khu Ba với Nguyễn Khải hồi kháng chiến sau hòa bình lập lại 1954 chuyển ra các cơ quan văn học nghệ thuật dân sự. Có gu..tài hoa .., cái truyện hay nhất của anh nói về một cuộc sống đã thành nếp, cái truyện Buổi trưa ở một thị xã ấy , được nhiều người nể.
Thế nhưng cuộc đời sáng tác của Mai Ngữ để lại ấn tượng về một cái gì làng nhàng dang dở. Hình như sự hiểu biết quá nhiều làm cho anh chán đời. Anh chả còn thiết gì cả, đến những trang viết của mình cũng không tha thiết nốt. Nói như Nguyễn Minh Châu “thằng ấy là một nghệ sĩ cũ. Nó cứ ra ra vào vào thế, nhân vật của nó cũng ra ra vào vào là chuyện tất nhiên thôi, có cái gì thực là sâu sắc đâu. Lùi xuống, Mai Ngữ lại thành một anh viết thuê rất dở nữa.”
Tháng 2.1973 khi Mai Ngữ mang tặng tiểu thuyết Dòng sông phía trước thì mọi sự càng rõ.Hồi trước, tính mấy chương ở Văn nghệ quân đội, thấy nhiều người khen. Bây giờ thì ai cũng chê.
- Đúng là thứ văn chương viết như đùa. Đến vợ cũng không biết viết vào lúc nào nữa.
- Không phải là nó không viết được, nhưng bố ẩu đại hạng. Lại còn cái lối mô tê răng rứa chữ miền Trung xài phứa phựa.
- Mình biết cách Ngữ nó viết mà. Lười mà lại tham, gì cũng rê rê như ỉa vãi mà không chịu bỏ cái gì cả. Nhiều chỗ nó cứ để trống đấy, lúc khác lại điền điền bừa vào, bất chấp cả lô gích
- Ối giời ơi, lại thấy Mai Ngữ vẽ bản đồ, các ông ạ.
- Căn bản là nó bịp mấy ông xuất bản.
Nguyễn Minh Châu tổng kết :
-- Kể ra, so với những Xuân Thiều, Hồ Phương, Hải Hồ thì ở đây Mai Ngữ là một người có gu hơn cả. Nhưng thả ra cho nó viết xem, cũng chỉ là chuyện hàng rau hàng nước lặt vặt, với một ít nhân vật ngồ ngộ. Nó thiếu một cái gì nghiêm chỉnh.
Về sau này Mai Ngữ có mấy thiên truyện cùng có tên là Chuyện như đùa. Cái “anh hoa” ấy , nghĩ lại hóa ra đã có trong anh từ hồi chiến tranh.
Chỗ giống nhau giữa Mai Ngữ và Xuân Sách là sự dừng lại ở mức tầm thường ban đầu, cái hiểu đi xa hơn cái làm được. Và bởi thông minh quá, các anh phải tìm ra cách thỏa hiệp . Sự tự biện hộ cho mình diễn ra ở cả hai phía. Nhìn ra đồng nghiệp, các anh thấy thật ra mọi người cũng chẳng ra sao. Quay về với mình, các anh tự hạ thấp tiêu chuẩn để thấy mình cũng không đến nỗi xoàng.
Xuân Sách trở về thường xuyên trong câu chuyện hàng ngày giữa tôi với Nguyễn Minh Châu. Từ Xuân Sách chúng tôi nhận ra một kiểu người viết.
-- Nói chuyện với ông Sách, nhiều khi rất thích, nhưng nhiều khi rất ngấy. Cứ như miếng thịt ôi, không biết dùng vào việc gì nữa.
-- Sách nó thông minh, nhưng là sự thông minh tiếp nhận, chứ không phải sự thông minh phát ra.
-- Nhiều khi đứng trước những chuyện lôi thôi, ông Sách ông ấy tảng lờ như không thèm để ý. Người ta khen thế là có bản lĩnh. Nhưng tôi thấy bản lĩnh phải là cái phần này: cái phần hướng về phía trước.
- Có cái chết là tất cả cánh Văn nghệ quân đội bây giờ, cả ông Cao, ông Ngữ, ông Hoàng, đều là mắc chung cái bệnh như vậy cả.
Không cần ở lâu lắm cũng có thể nhận ra sự đối lập giữa Nguyễn Minh Châu và Xuân Sách. Một bên linh động sắc sảo trong văn mà ngoài đời lại khờ khạo, vật vờ theo kiểu lên đồng. Một bên như ma xó chuyện gì cũng biết, nhưng khi viết thì bao nhiêu thông minh lại biến đâu hết. Và trong cuộc sống, nếu một bên lúc nào cũng đặt ra cho mình những mục đích cao để vươn tới – giá có thất bại cũng vươn tới, thì một bên lại khôn ngoan giấu đi cái kém, không bao giờ lố bịch cả nhưng cũng không bao giờ gây ra bất ngờ.
Nếu những bài viết về Nguyễn Minh Châu hoặc Đỗ Chu cho thấy thơ chân dung nhiều khi chỉ là một thứ đùa -- đùa nhả đùa nhảm -- của Xuân Sách thì bên cạnh đấy ,anh lại có những bài đầy tính chất chiêm nghiệm.Như mấy câu viết về Nguyễn Ngọc Tấn. Những bi đát của cuộc đời. Cái bất lực của người cầm bút. Bao nhiêu điều hàng ngày ai cũng nghĩ mà không ai nói ra thì Xuân Sách đã nói
Trăng sáng riêng soi một mặt người
Mối tình đôi bạn cách phương trời
Ước mơ của đất, anh về đất
Im lặng mà không cứu nổi đời
Lúc bấy giờ Nguyễn Ngọc Tấn đã vào nam , lấy tên là Nguyễn Thi . Trong tâm trí của anh em nhà số 4, anh sống và chết như một huyền thoại .
Một bước tự nhận thức của cả giới cầm bút
Nếu qua mảng chân dung các nhà văn cùng cơ quan Xuân Sách chủ yếu làm nổi lên cái nhiệt tình và liều lĩnh, tham vọng và thất thường, bền bỉ và hãnh tiến của thế hệ cùng tuổi với mình thì đến lúc viết về lớp già tức các cây bút đã trưởng thành từ trước 1945, anh lại cho thấy một xã hội dân sự trong văn chương ở đó hienj ra đủ mọi mặt người , mọi kiểu tồn tại .
Họ là Ngô Tất Tố thấu hiểu đủ mọi chuyện làng chuyện nước. Là Nguyễn Công Hoan như anh kép Tư Bền bới tung đống rác xưa và nay. Là Nam Cao tả sâu vào thời mình mà là tả sự bất lực và chống đối tuyệt vọng của con người mọi thời đại. Ở đây chúng ta bắt gặp những nhân cách đa dạng và ổn định.
Mang lại cho tác giả uy tín và được truyền tụng nhiều nhất là những bài Xuân Sách tả Hoài Thanh Chế Lan Viên. Đó là những bài đánh vỗ mặt, mang tính cách lật tẩy. Nó dám nói to lên những điều mà người khác đã nghĩ về các nhân vật kia, mà chưa có dịp nói.
Thời nào đến giờ, đám người hay chữ chỉ là đám quan chờ, thì sự nịnh nọt có gì là lạ. Cũng như mọi sự tàn ác, trong nghề ghen tị chèn ép nhau, bán đứng lẫn nhau ; cũng như thói chống đối vặt ; cũng như lối vênh vang làm dáng khoe mẽ mẹ hát con khen hay …Người đời có cái gì thì người cầm bút trong xã hội hiện đại có cả.
Thế nhưng chỉ có thế thì các chân dung nhà văn của Xuân Sách không có sức lưu truyền mạnh đến thế.
Xuân Sách kể là Xuân Diệu không phản ứng mà còn thú vị vì những gì XS viết về mình.“Chao ôi ngói mới nhà không mới – Riêng còn chẳng có có chi chung”.Có thể tin được chi tiết đó vì ở chỗ riêng tư, Xuân Diệu khá sòng phẳng. Ông hoàn toàn hiểu cái yếu của mình.
Được Xuân Diệu cười khen là bất tử thì quả là không xoàng tí nào.Trong khi tả cái thăng trầm biến đổi của ngòi bút từng viết Thơ thơ, XS đã đặt Xuân Diệu vào cái mạch lớn của cuộc đời.
Cũng thuộc loại bất tử như vậy là đoạn tả Hoài Thanh Bình thơ đến thuở bạc đầu –Vẫn không thể tất một câu nhân tình –giật mình mình lại thương mình – tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan. Giọng thơ buồn bã ở đây, cả cái đau xót, cả một thoáng hư vô “bóng hình cũng tan” ở đây, là điều không thể lầm lẫn, nó thể hiện XS với Hoài Thanh còn một sự kính trọng. Có cảm tưởng Xuân Sách từ mình mà suy ra người khác, viết về người mà viết về mình.
Đường chúng ta đi trong gió lửa
Còn ước mơ chi những cánh buồm
Từ thuở tóc xanh đi vỡ đất
Bạc đầu sỏi đá chửa thành cơm
Lần đầu nghe chính miệng XS đọc bài này, tôi đã nghĩ nó sẽ sống lâu lắm. Bởi tôi cảm nghe trong đó nhà thơ chỉ nhân cá nhân Hoàng Trung Thông để nói về một lớp người làm văn nghệ đương thời. Quyết tâm ư, chí khí ư, người ta rót vào tai nhau rằng chỉ cần có thế là trở thành bất tử và quả thật sự quyết tâm ấy có mang lại một cái gì đó, mang lại những tên tuổi và cả một thời văn nghệ. Nhưng thử tách ra, thử lùi lại thử đặt mình vào toàn cảnh lịch sử, chúng ta thấy gì ? Chúng ta sẽ thấy cái còn lại nhiều khi chỉ là bất lực thất bại .
Học theo cách làm của nước ngoài, gần đây đã có người đề nghị lúc nào đó ở ta xã hội sẽ tính chuyện xây dựng hẳn một nghĩa tranh dành riêng cho các nhà văn. Hẳn còn lâu cái đề nghị đó mới được thực hiện. Thậm chí giá có ai hỏi rằng chúng ta đã có đủ một lớp nhà văn như thế thì tôi cũng sẽ ngần ngại không.
Nhưng giả sử có một nghĩa trang như thế, tôi muốn đề nghị mang mấy câu Xuân Sách viết về Hoàng Trung Thông ra đặt ở ngoài cổng.
Nhà văn là những con người người nhất với nghĩa cuộc đời thật mong manh và những mong mỏi bao giờ cũng nằm ngoài tầm tay với. Giữa một cuộc đời đầy bất trắc, cái tên tuổi cái danh vọng ở đây chỉ là những phù du vô nghĩa
Xuân Sách đứng lại trong thể chân dung, Xuân Sách là một nhà thơ trong thể chân dung là nhờ ở cái phần cận nhân tình bàng bạc có mặt trong những chân dung xuất sắc .
Một cuộc đời hanh thông tròn trặn êm đẹp như đời thơ Tế Hanh rút lại cũng là ngao ngán buồn phiền “ Quá tuổi hoa niên đã bạc đầu – tình còn dang dở tận Hàng Châu – Khúc ca mới hát sao buồn thế -- Hai nửa yêu thương một nửa sầu”
Gãy đứt nửa vời nó là cái gì đi xuống trong số phận nhiều người để rồi quanh quẩn không thoát khỏi bơ vơ đơn độc. Đi bước nữa rồi đi bước nữa – Phấn son mưa nắng đã tàn phai—Cái kiếp đào chèo là vậy đó –Đêm tàn bạn cũ chẳng còn ai (bài về Nguyễn Thế Phương )
Đôi khi lại là những bâng khuâng trước một cái gì tàn phai và nỗi bơ vơ thường trực Ấy bức tranh quê đẹp một thời – má hồng đến quá nửa pha phôi – Bên sông vải chín mùa tu hú—Khắc khoải kêu chi suốt môt đời ( bài về Anh Thơ)
Oai hùng nào cũng có lúc chấm dứt , sự mở đường nào cũng có lúc dừng lại, cuộc đời tự do nào rồi rút lại cũng là chết trong tù túng, đó là ý nghĩa của bài về Thế Lữ : Với tiếng sáo Thiên Thai dìu dặt—Mở ra dòng Thơ mới cho đời—Bỏ rừng già về vườn Bách Thú – Con hổ buồn lặng lẽ trút tàn hơi
Cái cầu nối đời sống anh em VNQĐ lúc ấy với đời sống văn học bên Hội mà Xuân Sách nói ở đây vẫn là Nguyễn Khải. Một hai lần trong một tuần, Nguyễn Khải đạp xe xuống 65 Nguyễn Du và trên đường về nhà riêng ở bãi Phúc Xá, anh thường rẽ vào 4 Lý Nam Đế để trò chuyện với chúng tôi. Về một buổi họp thường vụ, các thủ lính Hội . Về một chuyến đi các địa phương cần hình thành ngay. Về một đoàn nhà văn nước ngoài sắp vào … Và quan trọng nhất là những chỉ đạo của cấp trên với Hội, chỗ này khen chỗ kia chê, chỗ đe nẹt chì chiết ... cùng là cách tiếp nhận những chỉ thị ấy của đám người cầm bút đương thời. Văn nghệ lạ lắm, văn nghệ chả là gì cả nhưng trong chiến tranh lại là chỗ luôn luôn được quan tâm, bởi hình như nó là cái mạch đập tinh thần của con người, nó là hàn thử biểu của xã hội , và một khi là một người viết thời nay , người ta không được bỏ qua điều gì cả.
Cái cách kể của Nguyễn Khải là cách nháp của một nhà văn sau khi đi thực tế.
Trong lời kể ấy, chân dung các nhà văn hiện lên rõ mồn một. Ông Nguyễn Tuân vun quén quanh mình một huyền thoại. Ông Nguyễn Đình Thi trong lúc chờ làm việc lớn, sống một cuộc đời công chức và ham chơi. Ông Hoàng Trung Thông bắt đầu cảm thấy thế nào là bất lực nên hay say rượu. Ông Tô Hoài lên rừng như một cách đi trốn, chân bước đi xa mà lòng để cả ở Hà Nội … Bao giờ thì tính cách những người trong cuộc và nhất là sự vận động của tính cách ấy cũng được Nguyễn Khải làm nổi.
Trong hồi ký Cát bụi chân ai Tô Hoài từng tự nhủ văn nghệ nói là quan trọng thế thôi, chứ thực ra là một cái gì có cũng được mà không cũng được.
Tinh thần cái sinh hoạt bên Hội mà Nguyễn Khải kể với Xuân sách cũng là như vậy .
Mấy năm 1960-63 ít nhiều có tạo nên một không khí sáng tác hào hứng. Có cảm tưởng là một không khí phục hưng của một thời thịnh trị. Thế nhưng chiến tranh đã nhanh chóng kéo người ta trở lại với thực tế . Chiến tranh cần tới sự có mặt của văn nghệ, đưa văn nghệ lên đỉnh cao, nhưng cũng tiêu hủy sức lực của người ta một cách nhanh nhất, và sớm để lại một sự thất vọng ngấm ngầm .
Tôi nhớ những lần Nguyễn Khải đi họp về, đằng sau lời kể về một cảnh chợ chiều bao giờ cũng là một kết luận về cái khái quát chung về thân phận và cái ám ảnh dai dẳng về thời gian trong số phận cá nhân:
-- Thế mà cả một kiếp người đã đi qua rồi đó
Thỉnh thoảng người ta cũng thoáng nhếch mép cười vì những nhố nhăng , nhưng sau tiếng cười là nỗi buồn thấm thía .
Kẻ cầm bút ở ta thường bị lý tưởng hóa, tức gán cho vai trò ông thần ông thánh.. Việc này có giải phóng ở họ ít sức lực, nhưng tai hại ở chỗ làm cho họ không còn là mình.Trong khi bị buộc phải đóng vai cao thượng, nhiều người lái cuộc sống mình đi theo hướng giả tạo.
Cũng may mà đời sống hiện đại góp phần hóa giải cái huyền thoại đó. Bản thân giới nghệ sĩ có sự tỉnh táo trở lại. Tìm tới một sự suy nghĩ đúng đắn về nghề cũng như về mình là khao khát thường trực của những nghệ sĩ chân chính.
Tôi nghĩ rằng hiện tượng thơ chân dung không phải việc riêng của Xuân Sách mà đánh dấu một trình độ tự ý thức của người cần bút. Người ta đã thường xuyên bàn bạc về nhau đùa bỡn muốn cắt nghĩa nhau, đưa nhau lên mây xanh và giáng nhau xuống bùn đen
Người ta quan tâm đến thơ Xuân sách là do những lý do đó.
Sổ tay tôi khoảng 1972 ghi :
Tết, ngồi với ông Hoàng Trung Nho, Hân ( Phan Hồng Giang). Nhân có người muốn dò thêm về lực lượng người viết ở 4 Lý Nam Đế, Nguyễn Khải tự nhiên buột miệng kể ra việc XS làm thơ chân dung. Đâu như ông bảo: Không, bên tôi, người mà giỏi nhất phải là ông Xuân Sách. Đó mới là người thông minh hơn hết thảy, chứ chúng tôi thì không phải đâu.
Và Khải đọc thơ chân dung.
Về sau Nguyễn Khải giải thích thêm: Mục đích của tôi là để cho họ ( dân bên Hội ) biết mình không chỉ viết được nhiều, đi chiến trường giỏi, mà còn cũng thông minh và đáo để nữa.
Giống như một thứ cò mồi, tôi – vẫn lời Khải -- phải lấy tôi nói trước. Rồi đến ông Hồ Phương, ông Hữu Mai... Không chỉ nói người ngoài mà người nhà với nhau cũng sâu cay ra trò, ngụ ý của tôi là vậy. Ông Tế Hanh, ông Hoàng Trung Nho, rồi Phan Hồng Giang, Bùi Bình Thi nhộn nhạo cả lên.Ví như về tác giả Xung kích ,Vỡ bờ . Hân: Đúng chất ông này là bắng nhắng, cái gì cũng dúng vào, mà chẳng làm gì giỏi. Bài về Nguyên Hồng: Con hồ già uống rượu giả vờ say- điểm huyệt rất trúng, sự giả vờ của ông già có tiếng là tâm huyết cần được phơi bày cho mọi người biết. Về ông Chế Lan Viên thì chưa hay lắm. Chưa nói được bản chất nói xuôi nói ngược thế nào cũng hay của ông ấy.Về ông Huy Cận, cái vẻ thoả mãn thì không ai cãi hộ nổi rồi.
Ngày tết, Nxb Quân Đội Nhân Dân họp mặt mời các ông đến. Lại đọc. Tô Hoài “Xuân Sách không làm được về mình đâu. Mình cũng hơi khó nắm đấy “.Nguyễn Khải : “Tôi chỉ xin đọc anh nghe câu đầu tiên-- Dế mèn lưu lạc 10 năm.” Ông Tô Hoài giật mình ngay. Nguyễn Đình Thi vớt vát: “Chúng ta đều rất thông minh cả. Nhưng có thông minh nhỏ, có thông minh lớn. Phải phấn đấu để có những thông minh lớn cơ “.Xuân Sách về kể: “Họ cũng phải thấy là cánh mình sống với nhau, cởi mở, có thể nói với nhau khá nhiều ý. Thế là được!”
Dao sắc không gọt được chuôi
Ngoài thơ tứ tuyệt các nhà văn cũng thường cũng “chơi nhau” bằng câu đối .
Về Tú Mỡ và Khái Hưng
--Dưới bóng tre xanh Tú Mỡ buông câu dòng nước ngược
Dọc đường gió bụi Khái Hưng đứng bán gánh hàng hoa
Về Vân Đài và Đoàn Phú Tứ
--Thanh lịch Vân Đài thanh lịch.. kịch
Ngã ba Phú Tứ ngã ba.. hoa
Về Thanh Tịnh
-- Thanh thanh thanh, thanh tú thanh giường thanh thiếu nữ
Tịnh tịnh tịnh, tịnh sừng tịnh mỏ tịnh nam mô
Và về Xuân Sách
-- Xuân đâu nữa 40, con 3 đứa, sao 3 ngôi, khôn dại dại khôn, khôn cũng nó, dại cũng nó
Sách gì cũng năm bảy, thơ một thể, văn một thể, đức tài tài đức, tài nơi mình, đức nơi mình
Đôi câu đối này Xuân Thiều làm năm 1972. Nó đã phác ra đầy đủ con người gia cảnh tác giả Thơ chân dung. Sao ba ngôi chỉ quân hàm thượng úy mà Xuân Sách mang trên vai ( Hữu Mai Hồ Phương lúc này đã đeo quân hàm thiếu tá ). Và ba đứa con chính là những chữ làm nên bút danh Lê Hoài Đăng.
Từ Xuân Sách lúc này có thể nhận ra dấu ấn một nếp sống thời chiến ổn định ở hậu phương Hà Nội trước 1975. Trước hết là sáng tác. Phong trào văn học cần những cây bút viết cho thiếu nhi, nhất là cái phần tham gia chiến tranh của thiếu nhi? Thì XS có Đội du kích thiếu niên Đình Bảng, Mặt trời quê hương. Quân đội cần một phóng viên đi chiến trường viết nhân danh nhà văn nhà thơ của lực lượng quân giải phóng. Nguyễn Minh Châu và Xuân Sách cùng được cử đi. Trong lúc Nguyễn Minh Châu trầy trật mãi mới cho ra được Dấu chân người lính ( sau này thành một cuốn loại trội nhất trong số các tác phẩm viết về chiến tranh ) thì Xuân Sách có tập thơ Trong lửa đạn, tập truyện Đêm ra trận cả hai in ra ngay sau đợt đi và sau này không ai còn nhớ tới chúng .Thái độ Xuân Sách có hai mặt . Một mặt anh thừa hiểu những cái đó chả là gì cả ( anh viết rất vội , chỉ cốt được in, chứ không gửi gắm tâm huyết gì ). Mặt khác anh vẫn không giấu được một nỗi vênh vang ngấm ngầm. Ta đã có sách in, ta cũng chả kém gì đời. Thậm chí, người ta còn đọc ra ở anh một sự trâng tráo, khi đối diện với những anh em nghiêm chỉnh làm nghề . Dường như sau trang viết của XS lúc này là cái cười khẩy, giữa sự dày công lao tâm khổ tứ của các anh với sự phẩy tay viết xong của tôi, thua đươc có là bao ?
Chạm mặt nhau trong cơ quan, mấy năm ấy, tôi luôn luôn bắt gặp một Xuân Sách lưỡng phân, lúc là người nhũn nhặn biết điều, lam lũ làm ăn ; lúc khác lại là kẻ đầy kiêu ngạo, lúc cam chịu nhẫn nhục lúc lại lồng lộn bất đắc chí, ừ thì mình không có tài nhưng bao thằng gọi là có tài khác thực ra nào có ra gì. Xuân Sách muốn xoa đầu , muốn cười thầm, muốn lắc đầu làm một cái án tử hình cho những kẻ gặp thời kẻ quá may mắn, muốn có một quân tẩy , xóa bỏ tất cả .
Trong số những ấn tượng lớn nhất về Xuân Sách tôi nhớ tới cái bĩu môi khinh đời của anh khi nghe những bản báo cáo về công trạng sáng tạo. Anh nắm bắt rất nhanh cái tinh thần hãnh tiến ở người này, cái lặng lẽ sung sướng đếm tiền của người kia. Mọi thành tựu như đều có cái vẻ vô nghĩa của nó . Nhân dịp tổ sáng tác của Hồ Phương tổng kết , Xuân Sách cũng ném ra cách tổng kết của mình
Tổ sáng tác, tổ sáng tác
Tác phẩm ùn ra như đống rác
Dấu chân người lính chửa in xong
Đã viết Ký sự hai bờ đác
Ông chủ tịch huyện cưỡi xe tăng
Thằng nào không tránh thì mất xác
Tôi ngẩng mặt lên nhìn Vùng trời
Mây trắng xếp đầy như xếp bạc
Một mình anh hùng Lê Mã Lương
Đánh cho lữ dù 3 tan tác
Thôi đành trở lại Thôn ven đường
Kiếm lấy cái gì mà gỡ gạc
Con gà động ổ nhà bên
Cục, cục tác, cục cục tác.
Nếu cái hồi Xuân Sách còn đang hoàn toàn nằm trong bóng tối anh em cơ quan đã hay nhìn về Xuân Sách thì lúc này anh còn tiếp tục được mọi người mang ra bàn bạc. Trong tiếng Việt có một từ gọi là khôn. Người khôn thông thường được hiểu không phải là người có danh, có tiền mà là người giỏi thích ứng làm nổi bản thân kiếm lợi cho bản thân khiến người ta không phục nhưng cũng phải chấp nhận.
Làm sao mà một người sáng tác không có gì đặc biệt như XS tạo đươc một ấn tượng khiến người ta luôn phải nhắc đến anh – đấy là cái khôn của anh.
Nguyễn Minh Châu ví von : Xuân Sách lúc này như chất dầu nhờn chỗ nào cũng chảy vào được, đâu cũng có mặt .
Mặc! XS, kiếm sống một cách kiên trì và có lý lẽ riêng của mình . Có lần anh nói với Nguyễn Minh Châu
- Anh đừng vênh mặt với chúng tôi! Tại trời cho anh nhiều hơn chúng tôi chứ đâu anh có cần cố gắng! Vậy thì với tư cách nhà văn, lẽ ra anh phải thông cảm với đám chúng sinh bất hạnh mới phải! Cũng nên sớm học tập cách kính trọng bọn không nổi tiếng đi thì vừa. Vì trong cái bọn không nổi tiếng ấy, khối tay, về mặt thông minh và bản lĩnh, nó còn bằng mấy anh đấy!
Dường như Xuân Sách không chỉ nói với thiên hạ mà thường xuyên nói với chính mình như vậy . Một lần nào đó anh bảo tôi:
-- Ông xem còn cửa nào mà tôi không thử vào không.
Nghe mà sững sờ. Trong khi tưởng là dong chơi anh vẫn lẩn mẩn làm cuộc phiêu lưu nho nhỏ. Ở những khu vực người khác bỏ qua anh lại gặt hái được một ít thành tựu.( Ấy là cái phần chân dung các nhà văn bên Hội ở trên tôi vừa dẫn. )
Trên tinh thần tự khẳng định, Xuân Sách có lần khắc họa chân dung mình một cách phô trương
- Cô giáo làng tôi đẻ sòn sòn
Một đêm ra trận được nghìn con
Thiếu nhi Đình Bảng nô ầm ĩ
Du kích Bạch Đằng hát véo von
Đường ra mặt trận chân chẳng mỏi
Lối vào lửa đạn bước không mòn
Mặt trời rạng rỡ quê hương mới
Vang khắp xa gần một tiếng khôn
Còn nhớ khi lần đầu nghe đọc bài này, Nguyễn Minh Châu cho luôn một chùy “như là một bản báo công ấy “. Nguyễn Khải thì nói chung về cả con người bạn mình : Thế mà cũng đòi khôn!
Dường như thấy tự khen như thế quá lố, nên Xuân Sách có chữa như sau
Cô giáo làng tôi đã chết rồi
Một đêm ra trận đất bom vùi
Xót xa Đình Bảng người chồng goá
Đau đớn Bạch Đằng lũ trẻ côi
Đường ra mặt trận gân cốt rão
Lối vào lửa đạn tóc da mồi
Mặt trời ảm đạm quê hương cũ
Khôn dại trần gian để tiếng cười
Chê thì có chê ,tuy nhiên âm điệu chủ yếu vẫn là khoe , khoe một cách kín đáo.
Sự hình thành một huyền thoại mới
Từ sau 1980, cuộc đời sáng tác của XS có bước rẽ ngoặt. Không chỉ chuyển về các cơ quan văn nghệ dân sự, mà cái chính là anh trở thành một bộ phận của sinh hoạt văn học ở cả bề nổi cũng như bề chìm của nó. Trong giới, cái tên XS nổi lên như một người thạo đời thạo việc. Khoảng 1989-90, DươngThu Hương còn sinh hoạt với Hội nhà văn, và nhiều lần được nhăm nhe vào chấp hành hội. Trước Đại hội nhà văn 1999, Dương Thu Hương nói với nhiều người:
-- Tôi mà trúng vào Ban chấp hành thì thả nào tôi xin Đại hội để nhường cho XS
Dương Thu Hương tin khả năng ứng phó và hiểu nghề, hiểu giới viết văn của XS sẽ giúp cho việc điều hành hoạt động của Hội .
Sáng tác của XS cũng đậm hơn sắc thái nhân văn
.: “Làm vua mà cũng chán / Bỏ đi theo mây ngàn / Một nước cờ Yên Tử / Làm bận lòng thế gian” (“Yên Tử”).
“Đừng rót nữa tôi không sành rượu / Uống không say thì uống làm gì / Vui chẳng thêm, buồn không quên được / Cứ như thừa từ cái mặt thừa đi / Cứ như thừa trong cõi đời náo nhiệt / Hay hớm gì nhìn gan ruột người ta / Giữa thời buổi cạnh tranh quyết liệt / Cứ tỉnh quoeo lắm lúc cũng phiền hà...” ( “Rượu”).
“Tôi về tới bến sông xưa/ Hút tàn điếu thuốc mà chưa gọi đò/ Nhìn theo ngọn khói vu vơ/ Nhớ thương thì có đợi chờ thì không/ Buồn ai thả lại giữa dòng/ Cho tôi mang lấy nặng lòng chiều nay/ Hư hao một thoáng heo may/ Sương nhòa mặt đất mây bay cuối trời/ Cất lên một tiếng đò ơi/ Nhỏ nhoi như giọt mưa rơi giữa đồng”. ( “Bến quê”).
Nhiều bài ca tụng XS được in khiến tôi hơi ngờ ngợ : hình như XS tôi biết hôm qua là khác và hai chục năm gần đây trong đời sống văn chương xuất hiện một XS khác . Nhưng có đúng vậy ?
Ở trên tôi hay gọi XS bằng anh , dưới đây xin gọi bằng ông . Tôi muốn nhìn người viết này như một thực thể khách quan
Thử bắt đầu bằng những lời ca tụng thơ chân dung . “Hình như trong đó sừng sững đến cả trăm gương mặt. Tập thơ đặc tả những gương mặt quen thuộc, nhàu nát như thể sách giáo khoa. Những thế hệ bầy đàn như chúng tôi chính là đã lớn lên trong cái vầng hào quang giáo khoa chói lọi ấy”. Ồ cái này thì không phải rồi . Về mặt nội dung các bài tôi đã nói ở trên . Còn về nghệ thuật cũng xôi đỗ, bài hay bài dở, khá nhiều bài chặt chẽ ( nhất là mấy bài làm theo thể tứ tuyệt ) nhưng nhiều hơn là những bài vần điệu xộc xệch , tác giả viết vội viết vàng cho qua , và trong khi thưởng thức người ta chỉ mải để ý xem nó dùng để chơi xỏ ai, ra đòn có ác không chứ không đếm xỉa tới nghệ thuật . Nên nhớ là XS làm tập này ban đầu chỉ để đùa , chả có lớp lang quy hoạch gì , và có một vài bài làm để lấp chỗ trống ; lại cũng nên nhớ là có bài làm theo đơn đặt hàng , có nhà văn thấy phải có mặt trong tập thơ này của XS thì mới nên người nên chèo kéo ông mời mọc ông , rồi thì XS cũng chiều đời mà làm thôi chứ chả hề mang vào đấy chút chủ kiến nào cả.
Cùng với sự khôn ngoan trong thế viết trêu chọc đùa bỡn , XS sớm được xem như một người rất thâm . Rồi theo cách nghĩ thông thường đám sùng bái ông đã thổi ông lên thành một bậc trí giả , một cây bút uyên bác thông kim bác cổ nhất là thạo cách nghĩ thâm thúy của người tàu . Trong số các danh hiệu được đặt bên cạnh ông có những chữ thuộc loại thiêng liêng nhất mà dưới áp lực của văn hóa Trung Hoa , mọi người đều dùng một cách tự nguyện một ẩn sĩ cô đơn, một Nhân giả , một chân kẻ sĩ, một cây cổ thụ. Có mặt trong một bữa rượu, ông được mô tả là khiến người ta giật mình bởỉ “ thấy hình ảnh hiện lên “có cái gì giống Khuất Nguyên ngày trước. Cả cuộc đời say, đủ các kiểu say, chỉ có mình ông tỉnh...” “ Ông chính là người mà thời gian đã kịp “nấu” thành... cao, một thứ “cao” giống như cao hổ cốt.”
Dễ dàng đoán ra tâm trạng nao đã khiến người ta cósự qúa đáng trong những lời khen tặng như vậy . Ngoài đời nhiều giá trị giả quá mà không ai phá tung ra được nên thấy ở XS có chút gì thực là người ta khen không tiếc lời .
Xã hôi tốt xấu nhập nhèm , ngoài dư luận công khai luôn luôn tồn tại những lời đồn thổi , ai cũng muốn tin
Còn về cơ bản thì như trên tôi đã nói, cái nề thường thấy nhớ hơn cả khi nhớ về hình ảnh nhà thơ chân dung này -- đó là loại các nho sĩ ở các làng xóm xưa . Cái gì ho cũng biết một tí Về hiểu biết chân trời của họ là những cuốn sử sách và triết lý bên tàu , nhưng cái chân trời ấy xa quá thăm thẳm và đến mỗi người thì tan nát rời vụn mỗi người mỗi kiểu . Ngay bên cạnh họ là đám đông là cái lẽ dời cao đẹp bầu ơi thương lấy bí cùng lẫn cái nếp sống dòm hành nhau tị nạnh nhau giữa những người láng giềng . Rút cục cái còn lại rõ rệt hơn cả một cuộc sống hai mặt con người chăm chỉ đấy mà dong chơi đấy thực dụng đấy mà hư vô đấy
Câu thơ XS viết về Chính Hữu Anh thành đồng chí tự bao giờ ? lúc này có thể đổi thành anh thành huyền thoại tự bao giờ .
Và tôi hiểu rằng , khốn khổ, Xuân Sách cũng tham gia vào cái việc tạo ra huyền thoại
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
SỐ TRUY CẬP
online