Nối dài cuộc trao đổi về tiểu thuyết
Lời người biên tập: Khá lâu sau khi chuyên đề "Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu" được khép lại vì lý do những người tham gia chỉ coi đây là dịp phô trương các quan niệm mà nội hàm của chúng còn rất mỏng, rất mờ nhạt, chúng tôi đã nhận được bài viết của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn. Chúng tôi định viết mail trả lời ông rằng: chuyên đề này đã mở ra và cũng đã đóng lại nhưng không có gì nối kết giữa chúng, cứ như ngôi làng có cả cổng tiền lẫn cổng hậu nhưng khoảng giữa chỉ là khoảnh đất trống vắng, không người. Nhưng đọc kỹ bài viết của ông Vương Trí Nhàn, thấy ông thực có lòng có bề và cách nhìn nhận, đánh giá về tiểu thuyết cũng như văn giới đương đại của ông có nhiều điểm khác biệt (ít nhất chúng cũng bình tĩnh hơn, lạnh hơn) với những bài đã đăng trong chuyên đề Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu, chúng tôi lại xin được giới thiệu cùng độc giả...
Tôi không lạc quan như Nguyên Ngọc
Ban biên tập VietnamNet đã tuyên bố kết thúc cuộc trao đổi chung quanh đề tài "Tiểu thuyết VN đang ở đâu?", nhưng sau đây, chúng tôi xin phép được trở lại với một số vấn đề đã nêu trong cuộc trao đổi có liên quan tới tình hình sáng tác và nghiên cứu hiện nay, và dừng lại kỹ hơn ở phần ý kiến của nhà văn Nguyên Ngọc:
1/ Dăm bảy năm nay khi nghe nhiều cuộc thi tiểu thuyết được phát động, tôi vẫn không tin là có hiệu quả, nếu có vài cuốn đọc được chỉ là cầu may, chứ không bao giờ có một “mùa màng bội thu “ như người ta mong mỏi. Vì sao? Vì trên phạm vi toàn thế giới, từ thế kỷ XX, thời các nhà văn có thể làm ăn theo kiểu mò mẫm đã qua. Đã tới lúc mọi tìm tòi phải được nâng lên thành quan niệm để làm kim chỉ nam hướng dẫn hoạt động. Những cuộc trao đổi về quan niệm, như VietnamNet vừa làm là dấu hiệu chúng ta bắt đầu tính chuyện đi tìm cái chìa khoá đích thực để giải quyết tình hình. Còn như tình trạng cuộc thảo luận bị bỏ dở chỉ cho thấy một thực trạng: muốn là một việc, làm được hay không là việc khác hẳn. Phải nói là cảm giác lúng túng này đang thấy rõ ở nhiều hoạt động xã hội khác chứ không chỉ trong văn học .
2/ Bài viết xuất sắc nhất và mang nhiều tâm huyết nhất trong đợt trao đổi này là của nhà văn Nguyên Ngọc: Còn nhiều người cầm bút rất có tư cách. Phải nhận trong bài có hàng loạt điểm gợi mở không có ở các bài khác:
- Tác giả sớm đưa ra một quan niệm về tiểu thuyết, là điểm xuất phát cần thiết mà thiếu nó, tức có những cách hiểu khác nhau về tiểu thuyết, người ta sẽ không bàn bạc được gì với nhau hết .
- Hơn nữa, cái quan niệm Nguyên Ngọc đưa ra và dùng để đối chiếu với tình hình đó là một quan niệm hiện đại, chúng ta rất cần học hỏi để tiếp nhận. Nhiệt tình chính trong nhiều bài viết của Nguyên Ngọc thời gian gần đây là nhiệt tình khẳng định rằng văn học ta đang trong giai đoạn trì trệ và chỉ có cách hiện đại hoá nó, chúng ta mới tạo nên một sức bật mới cho văn học, từ đó tạo nên một nền văn học có ích như ông quan niệm.
- Ngoài quan niệm, bài của Nguyên Ngọc đặc biệt đáng quý ở mong muốn bao quát tình hình văn học đương thời và muốn hướng dẫn nó, gợi ý cho nó một hướng phát triển.
3/ Tuy nhiên ở Nguyên Ngọc cũng đã thấy bộc lộ hàng loạt nhược điểm, một là quan niệm chưa rõ ràng, hai là thực tế sáng tác được đưa vào liên hệ cho quan niệm lại bị khái quát sai lệch và thứ ba là một sự tự tin rằng mình độc quyền chân lý dễ gây phản cảm.
Về điểm thứ nhất: Trong khi rất có ý thức về sự cần thiết phải có một quan niệm thì tiếc thay quan niệm về tiểu thuyết được ông trình bày cũng chưa có gì rõ ràng. Vấn đề không phải là sự phân biệt giữa tiểu thuyết và truyện ngắn truyện vừa, mà vấn đề là ở chỗ tìm xem trong lối khái quát đời sống, tiểu thuyết có gì khác với các hình thái tư tưởng khác. Theo nghĩa này, những luận điểm mà Nguyên Ngọc nhắc lại từ Kundera như “ nghệ thuật về sự bất định của cuộc đời, sự phi chân lý độc tôn “ về “cuộc dò tìm mãi mãi cái mới bất định vô tận của số kiếp con người “ đâu phải là độc quyền của tiểu thuyết kể cả tiểu thuyết hiện đại. Đúng hơn, phải nói nó là đặc điểm của tư duy hiện đại nói chung; ảnh hưởng vào tiểu thuyết ra sao, cần phải được nói rõ hơn.
Về điểm thứ hai: Nhiều người vốn trông đợi ở Nguyên Ngọc đoạn ông điểm qua tình hình sáng tác hiện thời. Tiếc thay, theo tôi đây là đoạn đáng thất vọng. Trong một bài viết có ý muốn khái quát định hướng cho cả một nền văn học mà tác giả lại khá tuỳ tiện trong việc kể tên các nhà tiểu thuyết (về bản danh sách này, bài Trao đổi cùng nhà văn Nguyên Ngọc của Thuận đã có những nhận xét khá xác đáng). Nói một cách chặt chẽ thì, Nguyên Ngọc chưa nghiêm túc tìm cách trả lời cho câu hỏi tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu.
Không chỉ khái quát về tình hình tiểu thuyết mà ở đoạn cuối bài viết "Còn nhiều người cầm bút rất có tư cách, Nguyên Ngọc cũng muốn đưa ra khái quát về tình hình văn học đương thời, nhất là những gì liên quan đến các nhà văn (bản thân tiêu đề chung của bài báo đó xác định cái tham vọng ấy của ông). Tôi cho rằng đoạn này cũng có phần hồ đồ và lầm lẫn. Bởi nói tới tư cách của một người cầm bút, trước hết phải nói đến chất lượng sáng tác, muốn đánh giá họ hãy căn cứ vào sáng tác - chứ còn mọi ý đồ mọi lời tuyên bố đều vô nghĩa. Thế mà sáng tác của chúng ta thì đang ấm ách trì trệ; một vài cây bút được đề cao chẳng qua chỉ là “ chọc”thẳng vào cái bực bội nặng nề trong tâm lý đại chúng; nhìn rộng ra thấy không ít nhà văn khi xuất hiện đầy hứa hẹn, viết được một hai cuốn rồi cũng xuống tay và bỏ nghề luôn.Thế thì biết nói gì với nhau bây giờ?!. Đấy là xét trên nguyên tắc. Còn trong thực tế, nhìn thẳng vào giới nhà văn hiện thời, phải nhận số có tư cách thực sự cũng không bao lăm; nhiều người chỉ nói miệng, tát nước theo mưa kiếm danh, chứ chẳng để tâm làm việc mà cũng chẳng có lòng có bề gì với đời sống; hoặc có lòng nhưng lại không có hiểu biết tương xứng và không hiện thực hoá được thiện chí của mình.
4/ Tôi muốn dành một phần riêng để nói về nhược điểm thứ ba trong "Còn nhiều người cầm bút rất có tư cách", tức là thử tìm hiểu tại sao bài viết lại gây ra phản cảm, ở một số người như Thuận và một số người khác, trong đó có tôi.
Trong nhiều phát biểu gần đây trên báo chí trong và ngoài nước, Nguyên Ngọc từng trở đi trở lại với cái ý rằng ở ta hiện đại hoá mà ông muốn chúng ta đi theo bắt đầu từ Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh. Bề nào mà xét thì ý kiến này cũng không thể chấp nhận được. Thế còn những Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân trước đó hoặc về sau này Nguyễn Khải thì sao? Theo chỗ tôi nhớ, Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Ngọc Tấn tác giả Trăng sáng và Đôi bạn chứ không phải Nguyễn Thi) hồi viết Im lặng cũng có tư duy khá hiện đại. Lấy một ví dụ nữa. Những năm Bảo Ninh và Nguyễn Huy Thiệp viết tốt nhất cũng là thời gian Tô Hoài cho in Cát bụi, chân ai , một cuốn gọi là hồi ký cũng được mà là tiểu thuyết cũng được, và đáp ứng đủ mọi tiêu chuẩn của tiểu thuyết mà Nguyên Ngọc đưa ra. Thế thì tại sao trong đầu Nguyên Ngọc hình như chỉ có hai nhà văn nói trên? Tôi tự cắt nghĩa cho mình thế này: việc hình thành tài năng của hai nhà văn Bảo Ninh và Nguyễn Huy Thiệp hồi ấy có gắn với nhiều đóng góp của Nguyên Ngọc cho đời sống văn học, vì thế sự kiên trì nói trên của tác giả Đất nước đứng lên là có thể hiểu được. Song tôi cho rằng không nên đặt tình cảm lên trên sự thực khách quan như vậy.
Có điều lạ mặc dù rất mê Kundera và không bỏ lỡ bất cứ dịp nào có thể tuyên truyền cho các quan niệm của Kundera song trong thực tế suy nghĩ của mình, Nguyên Ngọc lại đi ngược quan niệm mà nhà văn Pháp gốc Tiệp này khởi xướng. Tôi nói thế bởi vì (không biết có bạn đọc nào chia sẻ với tôi không) đọc Nguyên Ngọc trong lý luận luôn luôn cảm thấy ông quá tự tin, quá độc đoán, và trong khi đề cao quan niệm có nhiều chân lý thì ông lại cho thấy ông chỉ muốn bạn đọc tin một chân lý duy nhất là cái chân lý mà ông đã dày công nghiên cứu giới thiệu.
5/ Tôi tạm hình dung ra chúng ta đang có một không gian tiểu thuyết như thế này: cái cũ đã quá thoái hoá mòn mỏi mà cái mới chưa tới; phần lớn nhà văn làm việc trong mò mẫm thiếu lý luận và không sẵn sàng tiếp nhận lý luận; những quan niệm nước ngoài đưa vào thường không được chúng ta hiểu thấu và rất khó có cơ hội vận dụng; người khao khát đổi mới có thể có, nhưng người biết đổi mới một cách thực sự không có, chưa có; chúng ta còn rất thiếu những nhân cách văn học lớn, những cây bút đầu đàn dẫn đường …
Đấy là những điều còn lại trong tôi từ cuộc trao đổi trên VietnamNet nói chung và bài của nhà văn Nguyên Ngọc nói riêng .
Về tình hình chung, tôi bi quan chứ không lạc quan như Nguyên Ngọc.
Biết rằng tiểu thuyết của mình còn ít, và người Việt mình (chứ không phải chỉ các nhà văn) vốn thích làm hơn thích nghĩ, nhưng tôi vẫn cho rằng nay là lúc các nhà văn nên bớt viết để nghĩ nhiều hơn về tiểu thuyết. Nhất là xã hội nên lo nuôi lấy vài người chuyên đi vào tìm hiểu giới thiệu lý luận cũng như thực tế sáng tác tiểu thuyết ở nước ngoài. Bảo nhau thành khẩn học hỏi kiên trì làm một thời gian, rồi may ra dăm mười năm nữa, chúng ta mới theo kịp sự phát triển của tiểu thuyết trên thế giới.
Đề nghị của tôi: cần khởi động lại cuộc trao đổi về tiểu thuyết (tôi không muốn dùng chữ hâm lại vì nó gợi cảm giác gượng gạo và không thấy rằng chúng ta cần làm tốt hơn những gì chúng ta đã làm)
5/12/05
VietNamNet
đọc thêm Nguyên Ngọc: Còn nhiều người cầm bút rất có tư cách
NGHỀ VĂN & THẾ GIỚI VĂN CHƯƠNG Ở NAM CAO
Một mặt, lớn lên từ một vùng quê Hà Nam, Nam Cao không có cái may mắn khôn sớm của những người dân ngoại thành cái gì cũng dám làm như Tô Hoài,cũng lại không có cái liều lĩnh đối chọi với đời và sự thực là sớm biết nhiều khía cạnh trong mặt trái của đời như người dân nghèo thành thị đích thực Nguyên Hồng. Nam Cao là người con của nông thôn thực thụ.
Mặt khác, nếu xét về cái chất chủ yếu làm nên văn chương nó bộc lộ trong cách suy nghĩ và hành động của con người trong tác phẩm, mẫu hình tư duy của tác giả và nhân vật, mối quan hệ giữa đời sống vật chất và cái phần đời sỗng tinh thần riêng cho từng người..., thì lại thấy chính ra ở Nam Cao có nhiều chất của một ngòi bút trí thức, dù đây là một kiểu trí thức riêng mà chỉ xã hội Việt Nam lúc ấy mới có.
Quá trình trở thành nhà văn ở Nam Cao trên nét lớn gợi nhớ tới trường hợp những bạn văn của ông, Nguyên Hồng,Tô Hoài, hoặc một người đồng hương của ông là Nguyễn Bính : Họ đều là những người thuộc dạng nhà nghèo ( tên một tập truyện của Tô Hoài ) đến với nghề văn để kiếm sống.
Trên con đường đến với văn chương, Nam Cao và Nguyễn Bính có một điểm xuất phát chung :
Thế nhưng giữa họ lại có chỗ khác cơ bản : Nguyễn Bính tự khẳng định qua việc từ bỏ quê hương. Về sau, trong thơ nhà thi sĩ này, hình ảnh nông thôn còn trở đi trở lại,đến mức gần đây còn có người lầm tưởng
Ngược trở lại Nam Cao mới là người quay về quê để mà nhận chân diện mạo quê hương và ghi lại những diễn biến của nó trong một thời đại
Viết về chính những người cầm bút vốn là một nét đặc sắc của văn học Việt Nam khi bước sang thời kỳ hiện đại hoá, ít nhất là so với thời trung đại. Song công việc lúc đầu còn được làm rất sơ sài. Khái Hưng có một vài truyện nhưng không đãng chú ý lắm, Thạch Lam cũng vậy. Quyển sách bị bỏ quên, thiên truyện
Đặt trong hoàn cảnh ấy có thể thấy cái mới mẻ trong việc xử lý này ở Nam Cao. Ông đã trở đi trở lại với đề tài này nhiều lần. Song, ngoài cái mạnh về số lượng như vậy, theo sự quan sát của chúng tôi, phải nói Ông đã đào bới khai thác mọi mối quan hệ của người viết văn, nhất là tìm sâu vào nội tâm của họ. Người ta có thể tìm thấy qua hình ảnh những người viết văn một quan
Vẻ nghèo nàn bên ngoài và độ sâu sắc bên trong
Nói cho công bằng thì hoạt động nghể nghiệp của Nam Cao trước 1945 không thật tiêu biểu. Cách hành nghề phổ biến của những người viết văn đương thời là vừa viết văn vừa viết báo. Bề ngoài họ khá dông dài. Đĩ bợm. Hút sách. Nơi gặp nhau toàn là Khâm Thiên hay các nhà trò ben sông Hồng Họ vừa nghiêm túc
Trong ký ức cả những nhà văn đương thời, Nam Cao chỉ là một tên tuổi lờ mờ. Có lên Hà Nội thì ông luôn luôn phải núp bóng Tô Hoài
Cố nhiên khi đưa hình ảnh những người viết văn vào trang sách, nhà văn cũng chỏ xài những tài liệu mà mình sẵn có .
Tuy nhiên, trên cái mớ tài liệu có vẻ đạm bạc ấy, hình như Nam Cao đã đi xa hơn ai hết
Có thể thấy công việc của người viết văn được Nam Cao khai thác khá toàn diện.
Có chuyện sống với những người chung quanh để như cách nói của các nhà văn sau 45 là lấy tàI liệu. Nhiều hơn là những chuyện loay hoay tìm cảm hứng để viết. Những giấy phút lan man khi ngồi vào bàn mà không biết bắt đầu làm gì. Những đấu tranh tư tưởng nhằm vượt qua nỗi thèm muốn hưởng thụ
Lại cũng có chuyện kéo bè kéo bạn đi chơI ( Mua nhà ) nhất là chuyện quan hệ với các cơ quan báo chí và xuất bản. Những chữ kiếm được bao nhiêu tiền luôn luôn trở đI trở lại trong câu chuyện. Và bản thân truyện Đời thừa ( cũng tương tự như truyện Nước mắt về sau ) được xây dựng trên hành động cụ thể đi lấy nhuận bút
Dưới một cái nhìn soi mói hay là bi kịch
của những kẻ có ý thức về mình
Người ta hay nói con người cá nhân trong văn học. Nhưng cá nhân chỉ là mình khi có sự tự ý thức
Trong văn học phương Tây hiện đại, người ta từng nói tới những nhà văn mắc một loại bệnh là bệnh mang mình ra hành hạ. Sartre chẳng hạn
Trong văn học Việt nam Tú Xương có lẽ là người như thế. Ơ chỗ này Tú Xương tác giả cuối cùng của văn học trung đại với nghĩa làm thơ bằng chữ nôm và phổ biến theo lối truyền khẩu thì cũng là loại nhà văn mở đầu cho loại nghệ sĩ
Những tuyên ngôn ẩn sau trang sách
Có lẽ là do rơi rớt của những quan niệm thời trung đại, thấy có hiện tượng là trong các tác phẩm của các nhà văn tiền chiến, hình ảnh người viết văn bị lý tưởng hoá. Nguyễn Công Hoan, ngoài một và thiên truyện nói về cái éo le trong tình cảnh người nghệ sĩ thì trong một tiểu thuyết mang tên Trên đường sự nghiệp lại
Lan Khai có Mực mài nước mắt, song cũng nói nhiều về tâm huyết nhà văn
Trong số các thiên truyện Nam Cao đã viết mà có liên quan tớí người viết văn, Trăng sáng thường được nhắc nhở như một tác phẩm mang tính cách tuyên ngôn
Thật ra đây chỉ là một trường hợp Nam Cao công khai đứng ra công khai trình bày quan niệm sáng tác vè mình. Còn
Hãy bắt đầu ngay từ câu hỏi tại sao Nam Cao dám mạnh dạn viết vè mình nhiều như vậy
Cái mặt không chơi được : một tuyên ngôn về con người rõ ràng không kém gì các tuỳ bút của Nguyễn Tuân
Sở dĩ nhà văn này công khai nói về mình, là bởi ông tin rằng cái tôi là vô tận, viết tức là một cách khám phá bản thân. Là phơi bày chính mình.
Thế nào là chuyên nghiệp
Trên đây chúng ta vừa nói trong Đời thừa, việc viết văn được quan niệm ngay như việc kiếm sống. Có một chi tiết không nên bỏ qua : đoạn Hộ sa ngã Nguyên là từ nhà ra đI, Hộ đã định lấy tiền xong về nhà với vợ con Có lẽ đã nhiều lần bị lôi kéo nên Hộ mới phải tự nhủ mình như vậy. Nhưng đâu có phảI muốn là được. Chỉ cần bị đánh trúng điểm yếu trong con người là Hộ gục. Mà
Từ Đời thừa và những truyện tương tự có thể hình dung ra một ít khía cạnh của người viết văn : họ bắt đầu sống như những cây bút chuyên nghiệp – lâu nay câu chuyện viết văn theo lối chuyên nghiệp thường chỉ được nói tới như
Cảm giác chuyên nghiệp ở đây tức là cảm giác trên thế giới này có một nghề là nghề viết văn. CáI nghề mà mình theo đuổi là nghề mà bao người khác đang làm
Trở thành chuyên nghiệp tức là trở thành những con người cụ thể
Niềm cô đơn pha chút chua xót
Theo sự tưởng tượng của con người ngày nay, dường như qua đã tồn tại hình ảnh con người một nhà văn gần gũi quần chúng. Nhưng nhớ cái thiên truyện thường được viện dẫn trong trường hợp này là Lão Hạc
Nhưng có lần đã đọc hồi ký của mấy người đồng hương thấy nói Nam Cao rất ngại khách. Hẽ ai đến chơI
từ toàn bộ văn phẩm của Nam Cao, người ta vẫn thấy toát ra một sự thực chua xót : người nghệ sĩ là kẻ cô độc không ai thông cảm nổi
Một loại nhà trò con hát
Trong số các nhà văn đương thời có một người cũng phảI xoay trần ra viết và thường bị ám ảnh về đồng tiền là Vũ Trọng Phụng. Lòng căm hận của tác giả Số đỏ có một địa chỉ cụ thể là các ông chủ xuất bản
Mặc dầu là một tác giả thuộc diện ưu ái, song sau 1945, tác phẩm của Nam Cao chưa phảI đã được giới thiệu một cách khoa học, bằng chứng là Đôi lứa xứng đôi, tập truyện đầu tay của tác giả, mãI đến 1999 mới chính thức được in lại.
Điều thú vị là ngay từ tập truyện ngắn đầu tay ấy, Nam Cao đã hiện ra như một ngòi bút già dặn. Không phải chỉ vì ở đó đã có kiệt tác Chí Phèo, mà còn vì ở đó có những thiên truyện viết về số phận những người làm nghệ thuật là loại chủ đề thường chỉ những nhà văn đã từng trải mới hay đề cập tới.
Trong Hai cái xác, người ta bắt gặp cảnh người diễn viên xiếc
Nhưng đáng chú ý nhất phải kể Một bà hào hiệp. Đáng chú ý ở chỗ nó nêu ra cái tình cảnh oái oăm của một người viết văn : viết xong sách đang lo toắng cả lên tìm người in hộ thì có một bà nhắn tới gặp và hứa sẽ xuất tiền để lo cho cuốn sách được in. Rồi khi đến nơi mới biết bà ta đang cần có người viết thuê, để từ chuyện bà ta kể mà viết lại thành sách. Rồi rút cụ cũng chẳng có sách vở gì cả, mà cái bà rực của ấy chỉ cần một anh trai trẻ để đú đởn.
Thiên truyện khó có có thể nói là hay ấy thực ra bộc lộ một bước đi của Nam Cao trên con đường tự ý thức ở đây là suy nghĩ về người nghệ sĩ trong đời sống hiện đại.
Mặt khác, nếu xét về cái chất chủ yếu làm nên văn chương nó bộc lộ trong cách suy nghĩ và hành động của con người trong tác phẩm, mẫu hình tư duy của tác giả và nhân vật, mối quan hệ giữa đời sống vật chất và cái phần đời sỗng tinh thần riêng cho từng người..., thì lại thấy chính ra ở Nam Cao có nhiều chất của một ngòi bút trí thức, dù đây là một kiểu trí thức riêng mà chỉ xã hội Việt Nam lúc ấy mới có.
Quá trình trở thành nhà văn ở Nam Cao trên nét lớn gợi nhớ tới trường hợp những bạn văn của ông, Nguyên Hồng,Tô Hoài, hoặc một người đồng hương của ông là Nguyễn Bính : Họ đều là những người thuộc dạng nhà nghèo ( tên một tập truyện của Tô Hoài ) đến với nghề văn để kiếm sống.
Trên con đường đến với văn chương, Nam Cao và Nguyễn Bính có một điểm xuất phát chung :
Thế nhưng giữa họ lại có chỗ khác cơ bản : Nguyễn Bính tự khẳng định qua việc từ bỏ quê hương. Về sau, trong thơ nhà thi sĩ này, hình ảnh nông thôn còn trở đi trở lại,đến mức gần đây còn có người lầm tưởng
Ngược trở lại Nam Cao mới là người quay về quê để mà nhận chân diện mạo quê hương và ghi lại những diễn biến của nó trong một thời đại
Viết về chính những người cầm bút vốn là một nét đặc sắc của văn học Việt Nam khi bước sang thời kỳ hiện đại hoá, ít nhất là so với thời trung đại. Song công việc lúc đầu còn được làm rất sơ sài. Khái Hưng có một vài truyện nhưng không đãng chú ý lắm, Thạch Lam cũng vậy. Quyển sách bị bỏ quên, thiên truyện
Đặt trong hoàn cảnh ấy có thể thấy cái mới mẻ trong việc xử lý này ở Nam Cao. Ông đã trở đi trở lại với đề tài này nhiều lần. Song, ngoài cái mạnh về số lượng như vậy, theo sự quan sát của chúng tôi, phải nói Ông đã đào bới khai thác mọi mối quan hệ của người viết văn, nhất là tìm sâu vào nội tâm của họ. Người ta có thể tìm thấy qua hình ảnh những người viết văn một quan
Vẻ nghèo nàn bên ngoài và độ sâu sắc bên trong
Nói cho công bằng thì hoạt động nghể nghiệp của Nam Cao trước 1945 không thật tiêu biểu. Cách hành nghề phổ biến của những người viết văn đương thời là vừa viết văn vừa viết báo. Bề ngoài họ khá dông dài. Đĩ bợm. Hút sách. Nơi gặp nhau toàn là Khâm Thiên hay các nhà trò ben sông Hồng Họ vừa nghiêm túc
Trong ký ức cả những nhà văn đương thời, Nam Cao chỉ là một tên tuổi lờ mờ. Có lên Hà Nội thì ông luôn luôn phải núp bóng Tô Hoài
Cố nhiên khi đưa hình ảnh những người viết văn vào trang sách, nhà văn cũng chỏ xài những tài liệu mà mình sẵn có .
Tuy nhiên, trên cái mớ tài liệu có vẻ đạm bạc ấy, hình như Nam Cao đã đi xa hơn ai hết
Có thể thấy công việc của người viết văn được Nam Cao khai thác khá toàn diện.
Có chuyện sống với những người chung quanh để như cách nói của các nhà văn sau 45 là lấy tàI liệu. Nhiều hơn là những chuyện loay hoay tìm cảm hứng để viết. Những giấy phút lan man khi ngồi vào bàn mà không biết bắt đầu làm gì. Những đấu tranh tư tưởng nhằm vượt qua nỗi thèm muốn hưởng thụ
Lại cũng có chuyện kéo bè kéo bạn đi chơI ( Mua nhà ) nhất là chuyện quan hệ với các cơ quan báo chí và xuất bản. Những chữ kiếm được bao nhiêu tiền luôn luôn trở đI trở lại trong câu chuyện. Và bản thân truyện Đời thừa ( cũng tương tự như truyện Nước mắt về sau ) được xây dựng trên hành động cụ thể đi lấy nhuận bút
Dưới một cái nhìn soi mói hay là bi kịch
của những kẻ có ý thức về mình
Người ta hay nói con người cá nhân trong văn học. Nhưng cá nhân chỉ là mình khi có sự tự ý thức
Trong văn học phương Tây hiện đại, người ta từng nói tới những nhà văn mắc một loại bệnh là bệnh mang mình ra hành hạ. Sartre chẳng hạn
Trong văn học Việt nam Tú Xương có lẽ là người như thế. Ơ chỗ này Tú Xương tác giả cuối cùng của văn học trung đại với nghĩa làm thơ bằng chữ nôm và phổ biến theo lối truyền khẩu thì cũng là loại nhà văn mở đầu cho loại nghệ sĩ
Những tuyên ngôn ẩn sau trang sách
Có lẽ là do rơi rớt của những quan niệm thời trung đại, thấy có hiện tượng là trong các tác phẩm của các nhà văn tiền chiến, hình ảnh người viết văn bị lý tưởng hoá. Nguyễn Công Hoan, ngoài một và thiên truyện nói về cái éo le trong tình cảnh người nghệ sĩ thì trong một tiểu thuyết mang tên Trên đường sự nghiệp lại
Lan Khai có Mực mài nước mắt, song cũng nói nhiều về tâm huyết nhà văn
Trong số các thiên truyện Nam Cao đã viết mà có liên quan tớí người viết văn, Trăng sáng thường được nhắc nhở như một tác phẩm mang tính cách tuyên ngôn
Thật ra đây chỉ là một trường hợp Nam Cao công khai đứng ra công khai trình bày quan niệm sáng tác vè mình. Còn
Hãy bắt đầu ngay từ câu hỏi tại sao Nam Cao dám mạnh dạn viết vè mình nhiều như vậy
Cái mặt không chơi được : một tuyên ngôn về con người rõ ràng không kém gì các tuỳ bút của Nguyễn Tuân
Sở dĩ nhà văn này công khai nói về mình, là bởi ông tin rằng cái tôi là vô tận, viết tức là một cách khám phá bản thân. Là phơi bày chính mình.
Thế nào là chuyên nghiệp
Trên đây chúng ta vừa nói trong Đời thừa, việc viết văn được quan niệm ngay như việc kiếm sống. Có một chi tiết không nên bỏ qua : đoạn Hộ sa ngã Nguyên là từ nhà ra đI, Hộ đã định lấy tiền xong về nhà với vợ con Có lẽ đã nhiều lần bị lôi kéo nên Hộ mới phải tự nhủ mình như vậy. Nhưng đâu có phảI muốn là được. Chỉ cần bị đánh trúng điểm yếu trong con người là Hộ gục. Mà
Từ Đời thừa và những truyện tương tự có thể hình dung ra một ít khía cạnh của người viết văn : họ bắt đầu sống như những cây bút chuyên nghiệp – lâu nay câu chuyện viết văn theo lối chuyên nghiệp thường chỉ được nói tới như
Cảm giác chuyên nghiệp ở đây tức là cảm giác trên thế giới này có một nghề là nghề viết văn. CáI nghề mà mình theo đuổi là nghề mà bao người khác đang làm
Trở thành chuyên nghiệp tức là trở thành những con người cụ thể
Niềm cô đơn pha chút chua xót
Theo sự tưởng tượng của con người ngày nay, dường như qua đã tồn tại hình ảnh con người một nhà văn gần gũi quần chúng. Nhưng nhớ cái thiên truyện thường được viện dẫn trong trường hợp này là Lão Hạc
Nhưng có lần đã đọc hồi ký của mấy người đồng hương thấy nói Nam Cao rất ngại khách. Hẽ ai đến chơI
từ toàn bộ văn phẩm của Nam Cao, người ta vẫn thấy toát ra một sự thực chua xót : người nghệ sĩ là kẻ cô độc không ai thông cảm nổi
Một loại nhà trò con hát
Trong số các nhà văn đương thời có một người cũng phảI xoay trần ra viết và thường bị ám ảnh về đồng tiền là Vũ Trọng Phụng. Lòng căm hận của tác giả Số đỏ có một địa chỉ cụ thể là các ông chủ xuất bản
Mặc dầu là một tác giả thuộc diện ưu ái, song sau 1945, tác phẩm của Nam Cao chưa phảI đã được giới thiệu một cách khoa học, bằng chứng là Đôi lứa xứng đôi, tập truyện đầu tay của tác giả, mãI đến 1999 mới chính thức được in lại.
Điều thú vị là ngay từ tập truyện ngắn đầu tay ấy, Nam Cao đã hiện ra như một ngòi bút già dặn. Không phải chỉ vì ở đó đã có kiệt tác Chí Phèo, mà còn vì ở đó có những thiên truyện viết về số phận những người làm nghệ thuật là loại chủ đề thường chỉ những nhà văn đã từng trải mới hay đề cập tới.
Trong Hai cái xác, người ta bắt gặp cảnh người diễn viên xiếc
Nhưng đáng chú ý nhất phải kể Một bà hào hiệp. Đáng chú ý ở chỗ nó nêu ra cái tình cảnh oái oăm của một người viết văn : viết xong sách đang lo toắng cả lên tìm người in hộ thì có một bà nhắn tới gặp và hứa sẽ xuất tiền để lo cho cuốn sách được in. Rồi khi đến nơi mới biết bà ta đang cần có người viết thuê, để từ chuyện bà ta kể mà viết lại thành sách. Rồi rút cụ cũng chẳng có sách vở gì cả, mà cái bà rực của ấy chỉ cần một anh trai trẻ để đú đởn.
Thiên truyện khó có có thể nói là hay ấy thực ra bộc lộ một bước đi của Nam Cao trên con đường tự ý thức ở đây là suy nghĩ về người nghệ sĩ trong đời sống hiện đại.
ĐỂ NGHỀ VIẾT VĂN TRỞ THÀNH MỘT NGHỀ CAO QUÝ
Từ sau 1945, có một kiểu người viết văn đã hình thành với chỗ mạnh chỗ yếu của họ. Bài viết không có tham vọng trình bày vấn đề một cách toàn diện, mà chỉ đi vào một số khía cạnh:
- Nên nghĩ sao để đưa công việc viết văn thành một hoạt động nghề nghiệp thực thụ.
- Nên lo sao để trau dồi bản lĩnh người viết và hình thành nên những trí thức có cốt cách vững vàng.
- Nên đánh giá sao để mức độ quan liêu hoá, từ đó dần tìm cách giải thoát khỏi căn bệnh ác độc đó.
I
Theo nhiều người kể lại, trước Cách mạng nhà văn Nguyễn Tuân có lần bị ra toà. Khi người ta hỏi ông nghề nghiệp gì, ông trả lời viết văn thì viên thư lại liền ghi: vô nghề nghiệp. Mẩu giai thoại này thường được dẫn ra để ngụ ý là trước Cách mạng, nghề viết văn rất bị xem thường. Nhưng theo chúng tôi tìm hiểu thì mặc dù bị thành kiến như vậy, bấy giờ viết văn đã là một nghề với nghĩa:
a. Có những người coi viết văn như một công việc làm đều đều để kiếm sống mình và vợ con mình bằng chính nghề đó, không cần một thứ phụ cấp nào khác.
b. Trình độ nghề nghiệp của người viết khá ổn định. Ai chỉ có năng khiếu mà không hết lòng với nghề, sớm bị đào thải. Ngược lại những người theo đuổi nghề nhiều năm là những người chuyên sâu, có trình độ tay nghề cao.
Khi tôi hỏi nhà văn Tô Hoài trước Cách mạng trong vòng có mấy năm 1941, 1942, 1943, 1944… sao ông viết được nhiều thế, ông thường trả lời đại ý: Tình hình làm nghề lúc ấy nó đòi hỏi như vậy. Không có mặt hàng riêng anh không sống được (mặt hàng riêng, ở đây ý nói đề tài riêng, phong cách riêng). Có mặt hàng riêng rồi, lại phải viết đều, viết khoẻ nữa. Có điều lạ là đến bây giờ đọc lại nhiều tác phẩm của Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài lúc ấy, những tác phẩm mà đôi khi các ông kể là phải viết vội để mang bán lấy tiền khi vợ đau, con ốm v.v… còn thấy có giá trị, điều đó chỉ chứng tỏ ngòi bút của các ông đã đạt đến độ chín cần thiết. Mặc dù nước ta bấy giờ là một nước thuộc địa, nhưng những ảnh hưởng của thế giới vẫn dội vào đều đều và văn học ta từ 1925 đến 1945 đã trải qua những giai đoạn phát triển tiêu biểu thường thấy ở nhiều nền văn học khác.
Từ sau Cách mạng, khi nói về nghề viết văn, chúng ta thường hay nói đây là một công tác cách mạng mà không xem như một nghề kiếm sống. Đại khái thấy có ai có năng khiếu viết lách một chút là các cơ quan báo chí xuất bản liền kéo về làm các công việc kề cận với sáng tác, như phóng viên, biên tập viên. Rồi dần dần, trong những trường hợp đặc cách mà ở lớp người trên 40 này mới có một vài người được hưởng, còn chủ yếu giành cho các ngòi bút cao niên, tách ra thành sáng tác chuyên nghiệp, không phải làm gì mà vẫn được hưởng đều đều, lên lương đều đều, việc xếp lương và lên lương này dựa vào thâm niên tham gia cách mạng chứ không phải chất lượng sáng tác. Còn nhuận bút chỉ là chuyện phụ, thêm thắt vào cho đỡ tủi, cả người trả lẫn người nhận đều hiểu không ai sống bằng nhuận bút, thôi Nhà nước đã quy định vậy, thì ta cũng theo vậy. Nói gọn lại là đến nay chúng ta chỉ có những cán bộ viết văn chứ không có những người viết văn sống bằng nghề nghiệp của mình và về căn bản, Hội của chúng ta là một thứ hội của phong trào chứ không phải hội của những cây bút chuyên nghiệp. Phong trào có cái cần của nó (và đây là điều mà những ai mới vào nghề thường được răn dạy: hãy nhớ mình từ phong trào mà trưởng thành lên, không được tách rời cơ sở v.v… và v.v…). Nhưng đã đến lúc nên nói với nhau rằng đánh giá văn học một nước không bao giờ người ta dừng ở phong trào mà phải xem trình độ chuyên nghiệp hoá đến đâu, tức là xem cách đào tạo những cây bút tiêu biểu sống cả đời bằng nghề viết và trình độ những cây bút tiêu biểu đó so với các thời đại trước và so với trình độ ở các nước khác. Thử nhìn lại tình hình Hội ta ở chỗ này thấy có nhiều điểm đáng lo ngại. Hàng năm, rồi vài năm một lần, Hội lại kiểm điểm xem đã phát hiện được bao nhiêu cây bút mới, đã giúp cho phong trào tỉnh nọ tỉnh kia ra sao. Còn số phận các cây bút hôm qua đã phát hiện đó như thế nào, họ có khả năng trở thành những nhà văn chững chạc không thì không cần biết. Do đẻ giỏi mà nuôi kém, đẻ tràn lan, cốt lấy thành tích, mà không chú trọng bồi dưỡng tiếp tục, không mở ra con đường chọn lọc tự nhiên thông qua đào thải nên đã nảy sinh những hiện tượng rất lạ, trong không khí cởi mở hiện nay nên cho phép nói là những hiện tượng kỳ cục, quái gở. Có những người chỉ ngẫu nhiên có được một số sáng tác đột xuất cũng được chuyên nghiệp hoá, rồi sau cứ lẽo đẽo theo đuổi mãi với nghề, song không bao giờ viết được cái gì khá hơn những cái ban đầu kia nữa. Hoặc có những người có năng khiếu, phải nói là rất có năng khiếu nữa, giá ở trong một hoàn cảnh tốt, có thể trở thành một cây bút làm nghề thuần thục, đằng này ngược lại, sau một hai tác phẩm đầu, sinh ta lười lĩnh, làm dối làm ẩu, sống bằng cái uy danh sẵn có của tác phẩm đầu tay mà không biết rằng nhà văn là kẻ đời đời khởi nghiệp, cuộc đời người viết chỉ có nghĩa ở chỗ luôn luôn là những cuộc làm lại từ đầu. Do không có cạnh tranh, cũng như không có sự bắt buộc nhà văn để anh ta luôn luôn làm mới mình, chinh phục lại độc giả… nên số người viết khoẻ, đều tay, cái sau hơn cái trước, số đó rất nhiều. Một người như nhà văn Tô Hoài thường dặn dò một số anh em viết phê bình như chúng tôi là nên nhớ cái nghiệp nhà văn An Nam ta nó mỏng lắm. Khó tìm được thấy người viết quyển nào cũng hay. Đã có những người tuyên bố viết những bộ sách vài ba tập, nhưng thường thường là chỉ được tập đầu, còn các tập sau chả ra gì. Thậm chí, trong một cuốn sách cũng có hiện tượng xôi đỗ, chương được, chương không. Chúng tôi rất đồng tình với nhận xét trên đây của Tô Hoài. Nhắc lại ý kiến đó của ông, chúng tôi chỉ muốn lưu ý rằng đấy chẳng phải là một điều hay ho gì. Hơn nữa, phải thấy đấy là một điều đáng xấu hổ, không phải cho riêng ai, mà cho cả phong trào, và cái hướng phấn đấu là phải có được những cây bút vững vàng viết đều viết khoẻ, luôn luôn trên đường hoàn thiện sự nghiệp của mình để trở thành những tên tuổi làm vẻ vang cho nhân dân, cho đất nước. Lại cũng rất đáng báo động là trình độ nghề nghiệp của chúng ta hiện nay rất thấp. Đã đành viết văn là công việc của tâm huyết, của tư tưởng, nhưng trong nghề vẫn có những cái thuộc về kỹ thuật viết, những biểu hiện cụ thể của tư duy nghệ thuật, nó là dấu hiệu khiến cho đọc văn của thế kỷ này thấy khác hẳn với văn của thế kỷ khác. Với những ai không cho rằng có kỹ thuật viết văn, chúng tôi xin phép dừng lại ở đây, vì tranh luận về việc đó đòi hỏi rất nhiều giấy mực. Riêng với những ai công nhận là có kỹ thuật viết, tôi nghĩ các bạn đó cũng dễ nhận ra là kỹ thuật viết của chúng ta hiện nay - đặc biệt là trong văn xuôi -- rất cổ lỗ; cũng như hội hoạ, văn học ta hoàn toàn đứng ngoài mà không dây dưa gì đến những trào lưu chung của thế giới trong cái thế kỷ chúng ta đang sống. Khắc phục sự lạc hậu ấy trong hành nghề phải có thời gian, phải có chuẩn bị, nhưng nên nhớ đó là một trong những việc phải làm để đưa việc viết văn trở nên nghề nghiệp thực thụ. Và suy cho cùng, việc đào tạo những cây bút làm nghề thực thụ là cách tốt nhất để củng cố cái phong trào mà chúng ta từng dày công lo liệu. Từ các cây bút có trình độ hành nghề hiện đại, chúng ta mới có cơ hình thành những tài năng có tầm cỡ, những nhà văn đi ra thế giới bằng sáng tác của mình chứ không phải chỉ được đón tiếp như một nhà văn Việt Nam nói chung, điều mà Nguyễn Minh Châu từng than tiếc và những ai có lương tâm đều thấy đúng.
II
Từ những người viết có năng khiếu tới những người viết sống bằng nghề, có tay nghề hiện đại, đã có một nấc thang; từ những người làm nghề thành thạo lo sao hình thành nên những người có cốt cách trí thức, biết suy nghĩ và trả lời cho những lo toan chung của dân tộc, của đất nước, đấy lại là một nấc thang cao hơn, khó hơn. Do đức tính khiêm tốn đã ăn vào máu chúng ta (một thứ khiêm tốn đồng nghĩa với cầu an, sợ sệt, không dám chịu trách nhiệm, cốt sống yên thân qua ngày), giới cầm bút thường lảng tránh câu chuyện này, cho là trình độ ta còn thấp, không nên làm. Nhưng lảng mãi không được, cho nên xin phép khơi gợi lên ở đây và mong được hưởng ứng với nghĩa: bàn đi, bàn đi, rồi may ra có lúc chúng ta có thể làm, chứ không bao giờ bàn thì chắc chắn không bao giờ làm nổi.
Đọc lịch sử văn học một nước có nhiều duyên nợ với ta như nước Pháp, hẳn mọi người đều biết rằng ở đây, thời đại nào cũng hình thành nên những nhà văn đồng thời là những trí thức lớn của đất nước, những người viết văn không có chức vụ gì trong chính quyền, nhưng luôn luôn là những tiếng nói mạnh mẽ tham gia vào các việc lớn trong xã hội. Từ V. Huygo trở đi qua R. Rolland, A.France, H. Barbusse đến A. Gide và J.P. Sartre , A. Camus và L.Aragon … các nhà văn ấy đồng thời là những trí thức lớn. Cốt cách trí thức toát ra qua tác phẩm của họ, ở đó có cả truyền thống lâu dài mà nền văn hoá Pháp đã thu góp được, cốt cách trí thức đó lại cô kết trong con người của họ, bộc lộ ra qua cách ứng xử của họ. Nhắc đến tên tuổi các nhà văn ấy có nghĩa là nhắc đến một quyền lực, một uy tín. Đây cũng là chỉ số đánh dấu sự phát triển rất cao của một nền văn học, cái trình độ mà, ví dụ như, khi nhìn lại văn học Việt Nam trước Cách mạng, chúng ta thấy là chưa đạt tới. Theo chúng tôi hiểu, trước Cách mạng 1945 giới viết văn ở nước ta mới chỉ có những người hành nghề giỏi mà chưa có những trí thức với nghĩa tốt đẹp nhất của chữ ấy: những giá trị tinh thần mà đến nhà nước cũng phải vì nể.
Thế còn vai trò người viết văn trong xã hội ta từ sau Cách mạng tháng Tám? Đây là một vấn đề lớn, liên quan đến lịch sử hình thành và phát triển của trí thức Cách mạng nói chung. Trong phạm vi hiểu biết còn hạn chế, chúng tôi chỉ muốn nói một số điều liên quan đến sự định hướng mà lớp người viết trẻ từ hồi chống Mỹ hay được nhắc nhở, ý chúng muốn nói tới kiểu nhà văn mà bọn tôi được giáo dục là phải cố mà noi theo.
Đối tượng phục vụ của nền văn học mới là nhân dân lao động. Bản thân những người cầm bút trẻ phần lớn là con em của nhân dân lao động trưởng thành lên. Hơn bốn mươi năm qua, đất nước lại luôn luôn bận rộn . Do hoàn cảnh thúc bách, tận trong tâm khảm mọi người viết, bao giờ cũng khắc khoải một điều: phục vụ trước đã, tìm tòi làm chi vội, gắng viết làm sao để những người mới thoát nạn mù chữ cũng hiểu, thế là quý rồi. Bấy nhiêu lời dặn dò, điều tâm sự… là những yếu tố tạo nên cả một khí hậu văn học, nếu có thể nói như vậy. Chúng ta thường chỉ mới lưu ý tới ảnh hưởng của những điều kiện đó tới kết quả về mặt sáng tác. Rằng văn học ta sau 1945 mới chỉ có những tác phẩm lành mạnh phản ánh một cách khiêm tốn những biến chuyển của cách mạng. Rằng các nhà văn còn cần làm việc nhiều mới dần dần có được những tác phẩm tương ứng với tầm vóc của lịch sử v.v…. và v.v… Tất cả những cái đó đều đúng, nhưng còn nhiều hệ luỵ khác, nhất là những hệ luỵ cô kết thành nếp sống nếp nghĩ, cái đó mới đáng lo. Chẳng hạn, việc miêu tả đời sống một cách thô thiển (chỉ dừng lại ở mức miêu tả mà không đào sâu vào làm nổi bật ý nghĩa đời sống) ban đầu là một thực tế phải chấp nhận, sau trở thành một thứ khuôn thước, không ai nghĩ là nên làm khác. "Ở nước Việt Nam hôm nay, trẻ con làm văn nghị, người lớn làm văn miêu tả" - đấy là một câu tổng kết, mà ngẫm ra thấy đúng và do đó, thấy rất đau xót. Trong một bài báo viết trước khi mất, nhà văn Nguyễn Minh Châu nhận xét: "Một thời gian có lẽ cũng khá dài, hoặc ngay cả bây giờ, trong xã hội ta có một thứ quan niệm: làm nhà văn chỉ cần viết câu cho gãy gọn, đúng văn phạm, khéo hơn một chút nữa là viết cho dí dỏm…". Ý ông muốn nói do quan niệm như thế, nên không bao giờ lớp nhà văn trẻ trưởng thành nổi. Nếu được gọi sự vật bằng tên của nó, thì theo chúng tôi, quan niệm mà Nguyễn Minh Châu chỉ trích ở đây là quan niệm tước đi cốt cách trí thức ở nhà văn. Viết văn chỉ là một hành động tự phát, thấy đời đẹp thì ngứa cổ hót chơi. Mà ở thời đại này lịch sử đã quá nhiều kỳ tích, trong nhân dân đã quá nhiều mẫu người đẹp, hào hùng, nên nhà văn không cần suy nghĩ gì thêm, cứ ghi chép về họ cũng đủ. Một quan niệm như thế đẻ ra kiểu nhà văn có tính chất nghệ nhân, hoặc ca ngợi hoặc than vãn (khi thấy có một số mặt tiêu cực như hiện nay thì than vãn) mà không bao giờ hiểu bản chất đời sống. Đó là loại nhà văn giống như xẩm chợ, thiên về nói leo, phát biểu một thứ phản xạ tức thời và nông nổi trước đời sống hơn là chiêm nghiệm suy nghĩ thành thế giới nghệ thuật độc đáo của riêng mình. Xẩm thì cũng cần, chắc có người nói thế, được công nhận là xẩm tức cũng phải có năng khiếu, có lao động, và như thế là được rồi! Nhưng ở thời đại nào cũng vậy, điều mà đất nước và nhân dân đòi hỏi là những nghệ sĩ hành nghề một cách tự giác. Ở những nghệ sĩ này, bên cạnh năng khiếu còn cần nhiều phẩm chất khác: trình độ văn hoá (văn hoá theo nghĩa rộng, chứ không phải bằng cấp của người đi học), khả năng vừa đi vào đời sống vừa đơn độc suy nghĩ, thậm chí không ngại dấn thân vào những khu vực thoạt nhìn tưởng là trừu tượng siêu hình, nhưng nằm trong bản chất của sự sống, những điều hình như không dây dưa gì đến đời thường, nhưng một lúc nào đó, những người bình thường lại rất cần. Tóm lại cần tạo ra những nhân cách lớn, mà phần vốn liếng tinh thần bao gồm cả quan sát thể nghiệm lẫn kiến thức do sách vở mang lại, từ đó có thói quen sống làm việc của một trí thức. Chỉ những người như thế mới có khả năng vừa nói một cách đầy đủ về đời sống, vừa nâng người đọc lên tầm tư duy mới. Đó cũng là những người dám lên tiếng về các vấn đề lớn lao của nhân dân đất nước và khi cần, lấy uy tín danh dự của mình ra, bảo đảm cho điều mình nói. Cái cốt cách trí thức ấy cũng chính là tiền đề gốc, để tạo ra những giá trị có tính chất nhân bản sâu sắc.
Thiếu lý tưởng nghề nghiệp, thiếu cốt cách trí thức, đây có phải căn bệnh có thật của những người viết văn hôm nay không, thậm chí nếu có thì nên gọi là bệnh hay là quan điểm thực tiễn cần thiết, một điểm đáng tự hào, xin các bạn đồng nghiệp cùng bàn. Phần chúng tôi, xin thú thực là trước khi nêu ý kiến này, đã phải phân vân rất nhiều, cầm bút viết ra mà cứ cảm thấy ngần ngại. Đúng là khi đã vào sâu nghề nghiệp, trong thâm tâm nhiều người cũng thấy phải phấn đấu để tạo ra cốt cách cho ngòi bút của mình, học thêm, trau dồi bản lĩnh thêm. Tự đào luyện thành một trí thức chân chính, cái điều ấy càng ngày càng hiện lên như một mơ ước. Có điều trong những ngày gạo châu củi quế, văn hoá tiêu dùng tràn lan này, cái chuyện đó xa vời quá, bàn tới không được, nói ra e thành chuyện lạc lõng. Nhưng có cái lạ ở những người viết văn là những nét tâm lý đáng sợ sau đây: khi không thể làm, thì coi là việc không cần làm. Và nếu mình không làm được mà người khác có ý muốn làm thì ra công khích bác, chế giễu. "Thời buổi này còn nói chuyện trí thức ư? Cũ rồi, lỗi thời rồi! Lại muốn chơi trội ư? Lại muốn theo kiểu thơ văn hũ nút ư?…". Những lời châm chọc tương tự đã giết hại bao mầm mống tốt đẹp ở những người toan đi vào con đường tự rèn mình, những mong manh lại cho nghề văn một ý nghĩa cao quý như một thiên chức tốt đẹp. Ấy là không kể có những nhà văn nhà thơ đàn anh từng được đào tạo kỹ càng, giờ vẫn chịu khó làm nghề, chịu khó học hỏi, có thói quen làm việc của những trí thức, nhưng đôi khi cũng vô tình hay cố ý hùa theo mọi người, bỉ bác những tìm tòi học hỏi của các bạn trẻ. Việc hùa theo một cách vô trách nhiệm này lâu ngày ở các vị ấy trở thành một thứ thói quen nhắc đi nhắc lại không biết nhàm chán đến mức người ta có thể tự hỏi: hay là các vị ấy có tri thức rồi thì không muốn ai có nữa, thậm chí muốn nghề văn của ta càng lạc hậu càng tốt, nhân cách anh em chung quanh càng kém đi thì nhân cách các vị ấy càng đẹp đẽ hơn lên. Dù là động cơ nào đi nữa thì lối ứng xử này cũng rất nguy hiểm.
III
Không lo rèn luyện về mặt nghề nghiệp, không tự cảnh tỉnh và hướng suy nghĩ vào cuộc tìm tòi hoàn thiện của người trí thức, thế các nhà văn -- tôi không nói tất cả, nhưng ngờ rằng không ít nhà văn ở ta- hướng năng lượng, hướng nhiệt tình đời sống của mình vào đâu? Xin thưa: hướng đi làm quan. Câu trả lời nghe có vẻ lạ tai nhưng lại là sự thật mỗi ngày mỗi hiển hiện rõ rệt.
Xưa kia, dưới thời phong kiến, nhiều nhà nho có tâm huyết đã ra làm quan rồi, thậm chí đã hiển đạt lắm rồi, thượng thư, tổng đốc hẳn hoi, nhưng vẫn canh cánh bên lòng một nỗi buồn cảm thấy mình rơi vào vòng ô trọc, và dồn cả tấc lòng mình vào những câu thơ tâm sự mà lúc viết ngỡ rằng có thể không ai biết tới. Trong lòng các ông quan ấy vẫn còn những thi sĩ chân chính. Nay thì hình như mọi chuyện xảy ra theo chiều ngược lại, người ta thích làm quan ngay trong giới của mình, một sự lạ lùng, vậy mà, oái oăm thay, lại là điều có thật. Trong bộ máy hành chính của ta, Hội nhà văn chỉ là một cơ quan nhỏ, cỡ ngang một vụ, quyền lợi hình như không có gì béo bở lắm. Tiền tiêu cho Hội hàng năm, đã có người nửa đùa nửa thật mà dự đoán rằng không khéo chỉ xấp xỉ tiền tiêu cho một đội bóng đá. Nhưng như mấy câu thơ tức cảnh của Nguyễn Gia Thiều:
Vẻ chi tèo teo cảnh
Thế mà cũng tang thương
ở đây cũng vẫn có đủ những căn bệnh mà xã hội ta đang có.
Cái ham muốn làm quan đó diễn ra dai dẳng hàng ngày lại càng nồng nã quay cuồng trong lòng người ta trước những sự kiện như một kỳ bổ nhiệm , một đợt đại hội “Lâu nay nhiều người chúng ta đến đại hội, điều đầu tiên là xì xào xem ai vào chấp hành “.Một nhận xét như thế không làm ai bận tâm vì nó là chuyện đương nhiên . Sở dĩ người nào cũng ngong ngóng nhìn vào chỗ ấy, vì quả thật, theo cách tổ chức như của chúng ta , một chức vụ trong Hội bảo đảm cho người ta nhiều thứ lắm.
Một người phụ trách nếu biết tận dụng quyền lực sẽ có thể in sách ào ào vì Hội có nhà xuất bản riêng. Sách ra rồi sẽ có báo của Hội ca ngợi tâng bốc. Các hội đồng thì đề nghị tặng thưởng. Các cơ quan đối ngoại thì gợi ý Hội bạn nên dịch nên in…
Hồi còn bao cấp, quyền lợi lớn đến vậy đó. Về sau có vẻ bớt đi , nhưng còn lớn lắm , vì ở lĩnh vực nào có xóa bỏ bao cấp không biết , chứ trong lĩnh vực tư tưởng , đâu có chuyện bỏ !
Có thể so với "quan chức" ở các ngành khác, quyền lợi của các "quan chức" trong giới cầm bút chả mùi mẽ gì! Nhưng "quan chức" trong văn nghệ có cái thú là nhàn thân và có một lớp vỏ rất đẹp đẽ. Trong lúc làm "quan", người ta có thể tự an ủi: hình như ta vẫn là người lao động cơ mà…Do ta viết hay nên sách được tái bản và nước ngoài cho dịch… Họ không viết hay bằng ta nên họ tị nạnh… Ôi, đã có cái lý để tự biện hộ khéo léo đến như thế, thì sự hấp dẫn của quyền lực chỉ càng thêm mạnh mẽ! Cũng do chỗ được một hình thức màu mè che đậy, nên chủ nghĩa quan liêu có nhiều biến dạng cụ thể, tạo nên một sức quyến rũ kỳ lạ. Người xưa nói tu tại gia, còn trong giới chúng ta có lối vụ tiếng tăm nhất thời, thực chất cũng là làm quan mà lại không có chức tước nào, chỉ có sự thiêng liêng của nghề văn bị đánh tráo và bị lợi dụng.
Ở ta danh nghĩa hội viên Hội nhà văn khá quan trọng, và đó là một quan niệm được hình thành trong suốt trường kỳ lịch sử, nên khá bền chắc trong lòng người .Trong khi kiếm sống bằng nhiều nghề khác, nhiều người vẫn tìm đủ cách để xin vào Hội, và hay oán thán rằng Hội không mở rộng cửa đón mình. Lại cốt vào để dành quyền lợi, một ít tiền trợ cấp, một suất vé đi tham quan, đi họp ở nước ngoài chứ gì? Một số người khinh bạc dè bỉu .Cái đó theo tôi có, nhưng không phải tất cả. Công bằng mà nói, phải thấy nhiều người có động cơ trong sáng, muốn vào Hội vì nghĩ rằng có xuất hội viên nghĩa là tài năng được khẳng định, là có được một vị trí nghề nghiệp vững chắc. Nhưng với tư cách là một hội viên tính đến 2007 là ba chục năm , tôi cũng xin được phép thú nhận một suy nghĩ khác: Cái đích của việc viết văn cao đẹp hơn nhiều, sự công nhận của những người đương thời, kể cả những người cùng giới, rất cần cho mình, nhưng suy cho cùng, vẫn không phải là bảo đảm chăc chắn cho những gì mình đã và sẽ viết ra. Xưa nay, trong lịch sử, đã có bao nhiêu trường hợp một nhà văn được người đương thời đưa lên tận mây xanh, sau không ai biết tới nữa. Vậy thì dù rất quý những lời động viên nhau, chúng ta cũng nên nhìn sự đời nhẹ đi một chút, và chính các nhà văn phải đi đầu trong việc này, thành thực, biết điều, thận trọng. Sở dĩ, một số anh em mới viết đôi khi cay cú với chuyện vào hội vì chính các hội viên cũ đầu têu gây ra một thứ danh hão . Trong thâm tâm những hội viên ấy không khỏi cảm thấy (và qua giọng nói tiếng cười cho người ta cảm thấy) mình là một cái gì đã thành rồi, đã liệt hạng rồi, có ngạch có bậc rồi. Đây chính là chủ nghĩa quan liêu thông thường, một thứ tâm lý quan liêu bắt rễ vào suy nghĩ trong số đông chúng ta. Từ chỗ cần khẳng định vị trí và thành tựu của văn học cách mạng, chúng ta đi dần tới chỗ khuếch đại đóng góp của từng người. Tự chúng ta làm, rồi lại tự chúng ta khen nhau, văn thơ chúng ta in trên báo chưa ráo mực nhiều khi đã vào thẳng sách giáo khoa. Trong các sách văn học sử, chúng ta dành chỗ cho thời hiện đại quá nhiều ; dù cố ý hay vô tình thì cũng là cách vĩnh viễn hoá những tên tuổi hiện thời, xếp mình và bè bạn mình bên cạnh những đấng, những bậc kỳ cựu trong quá khứ đã chịu nổi thử thách của thời gian. Đấy là một thứ tự đầu độc rất có hại cho sáng tác. Sinh thời, nhà thơ Xuân Diệu là một người lao động rất cần cù, ngay khi tuổi đã cao, ông vẫn hàng ngày đánh vật với trang giấy trắng, luôn luôn dốc sức làm những công việc lâu dài mà khi có dịp xuất hiện trên báo chí cũng không bỏ qua bao giờ. Có điều, đối với nhiều anh em làm biên tập ở các báo, nhà xuất bản, tức cánh ở trong bếp núc nghề văn như chúng tôi, Xuân Diệu thường hiện ra với một chỗ yếu không thể khắc phục, đó là ông rất sợ người ta quên mình, lâu không mời ông viết là ông không bằng lòng, trong một "bảng vàng danh dự" nào đó (nhiều khi chỉ là một danh sách đưa ra ngẫu nhiên, trong một bài báo nhỏ) mà thiếu tên ông là ông cự ngay. Sự hiếu danh ở Xuân Diệu rất thành thực, khiến không ai nỡ giận ông. Chúng tôi cũng hiểu, trong đời tư, ông rất đơn độc, nên luôn luôn cần được bù đắp, muốn mình luôn luôn sống với văn học, sống với mọi người. Song nghĩ đến việc một nhà thơ thuộc loại dẫn đầu cả một nền thơ, mà luôn luôn sợ người ta quên, sợ người ta xếp lầm chỗ mình như thế, chúng tôi cứ thấy có gì tội nghiệp, lại cứ thấy tiếc cho ông. Mặc dù đã có gan bỏ hết các chức tước để chỉ dồn sức vào các trang viết, Xuân Diệu vẫn bị mấy chữ tiếng thơm trói buộc, và điều đó đã kìm hãm ông, không cho phép ông tập trung làm việc, nhất là không cho phép ông phiêu lưu tìm kiếm, như nghề văn vốn đòi hỏi. Trường hợp Xuân Diệu thật ra chỉ là một ca điển hình, căn bệnh trên đây ít nhiều có trong mỗi chúng ta. Do ảnh hưởng của một thứ chủ nghĩa tập thể thô thiển, ta quan niệm rằng sự đánh giá của số đông về từng cá nhân bao giờ cũng chính xác và nhất thành là bất biến, và thuộc về lịch sử, ta đâm ra sợ hãi khi có vẻ ra ngoài thông lệ, không theo lối nói, lối ứng xử của chung quanh và chỉ hoàn toàn yên tâm khi thấy mình nói chung cũng giống như mọi người, rồi trong khuôn khổ cái chung ấy, nhích được một chút hơn mọi người thì hí hửng, sung sướng. Cái tâm lý bầy đàn này - ở Liên Xô cũ người ta gọi như thế- vốn đã đi ngược lại bản chất con người nói chung, lại càng là không thể chấp nhận được với những ai làm nghề sáng tạo, bởi nó không tạo được sự đơn độc tinh thần vốn là cần thiết với những công việc lớn. Để khắc phục chỗ yếu này, trước hết cần có sự cởi mở về quan niệm. Cái mới nào khi mới ra đời chẳng đơn độc, thậm chí là thiểu số nữa. Nếu cứ lấy đa số ra mà áp đặt thì trong nhiều trường hợp, không có được cái mới thực sự. Muốn có được cái mới, chủ quan từng người phải có sự kiên trì mà chung quanh phải có sự thông cảm. Trong nền văn học ta sau Cách mạng, đã có những trường hợp do người viết có được ngoan cường chỉ là mình, dám là mình, mà một phong cách được hình thành. Đó là, chẳng hạn, những trang văn xuôi của Nguyễn Khải, một cách nhìn đời sống ban đầu bị bao người kêu là độc ác, tàn nhẫn, nhưng khi quen rồi, lại cho là sắc sảo, biết phát hiện. Đó là, chẳng hạn, thơ của Nguyễn Đình Thi, thứ thơ có một thời bị mang ra phê bình cho là yếu đuối, xa lạ với quần chúng (chúng tôi còn được nghe kể là có một câu phê phán rất cô đọng "Anh không khóc nhưng những chữ của anh nó thút thít"), nay đối với chúng ta lại là một thứ thơ có chiều sâu nội tâm và theo ý tôi là một cách tân về giọng điệu trong thơ. Hoá ra, chưa nói đâu xa, ngay ở các bậc đàn anh hôm nay đang viết, cũng đã có những bài học quý, các anh đã nêu gương dũng cảm tìm tòi, đi ngược lại sự công nhận nhất thời của số đông để tìm tới giá trị lâu dài hơn cho tác phẩm của mình. Tôi không rõ là tại sao các anh thường quên không dặn dò lớp người sau dũng cảm, dám đơn độc tìm tòi, mà thường chỉ nhắc chúng tôi là lắng nghe chung quanh, hoà hợp với phong trào và khi xem xét các tác phẩm mới viết ra, các anh cũng chỉ lấy sự công nhận của số đông ra làm tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá. Trong một hoàn cảnh như thế, dĩ nhiên, cái tâm lý quan liêu nói trên - thích danh tiếng, thích xác định "địa vị lâu dài" trong văn học, hợm hĩnh một cách nông nổi - tha hồ lây lan như một thứ dịch bệnh, đời sống văn học có lúc chỉ còn cái vẻ nhộn nhịp bề ngoài mà thiếu sự âm thầm kiên nhẫn tìm tòi. Lấy cái nhất thời để đánh giá nhau hoặc chê bai nhau, chúng ta tự làm yếu mình đi rất nhiều và đến khi làn sóng văn hoá tiêu dùng lan tới, thì nhiều người bó gối quy hàng. Trước khi mất, Nguyễn Minh Châu có nói với Nguyễn Đăng Mạnh: "Nhà văn mà sợ dân chủ thì không thể hiểu được". Mượn cách nói đó cũng có thể nói nhà văn mà chỉ biết có tiếng thơm đương thời (tôi nhấn mạnh chữ chỉ), mà chỉ đánh giá theo số lượng trang viết, số cuốn được làm khi in tuyển tập, số bài phê bình tâng bốc… thì cũng không thể hiểu được. Nhưng đó là một nét tâm lý đang phổ biến. Cái hướng mà chúng ta phải nghĩ ở đây là bảo nhau cùng sửa, người nào cũng sửa thì mới nhanh chóng giải được bệnh.
*
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
SỐ TRUY CẬP
online