Lưu trữ Blog

KIM LÂN


và NHỮNG KIẾP NGƯỜI
“ĐẦU THỪA ĐUÔI THẸO”

Thật lòng khó nói rằng Kim Lân hồi trẻ có một vẻ ngoài sang trọng. Hình như ông sẵn sàng tỏ ra nhếch nhác luộm thuộm một chút trước mặt mọi người để càng không ai để mắt tới ông càng tốt. Tôi nhớ khoảng 1968-1970 nghe một đồng nghiệp là nhà văn Lê Minh nói về Kim Lân. Trong một buổi họp của giới văn nghệ, đáp lại lời yêu cầu của tôi là nhờ chỉ cho biết mặt Kim Lân, Lê Minh đảo mắt nhìn quanh rồi nói đùa:
Khéo khi gặp lại ngạc nhiên vì cái vẻ quá cỏ rả của ông ấy chứ lại!
Dĩ nhiên có dịp nói chuyện với Kim Lân rồi thì chúng tôi đều hiểu rằng đằng sau cái bề ngoài xuềnh xoàng của một con người cứ muốn tự xoá mình đi ấy là một ngòi bút có cá tính, một kiểu đóng vai lâu ngày đã hoá tự nhiên. Song, ấn tượng ban đầu vẫn không hoàn toàn phai mờ; nghĩ cho cùng thì vẫn thấy giữa cái vẻ nhuế nhoá, xọ dụi kia với văn chương Kim Lân có gì rất gần gũi. Nhà văn này, viết những thứ này, thì phải có dáng dấp như vậy. Vợ nhặt, Con chó xấu xí, người ta không thể nghĩ được những cái tên xứng đáng hơn để chỉ nội dung các tác phẩm ấy! ở đoạn kết Người chú dượng, nhân vật xưng tôi nói về hai vợ chồng bà dì mình “những con người như là đầu thừa đuôi thẹo ở khắp các xó xỉnh của cuộc sống được các anh cán bộ đội ghép lại, xây dựng cho thành vợ thành chồng”. Lùi về xa hơn nữa, ở chỗ bắt đầu sáng tác của Kim Lân là trường hợp Đứa con người vợ lẽ, thiên truyện kể lại nỗi nghèo đói - đói theo nghĩa đen - của một thanh niên tự cảm thấy kiếp sống mình là sống thừa. Hình như những mẫu người đầu thừa đuôi thẹo ấy đã gửi một đại diện của họ vào văn học và Kim Lân đã làm việc này một cách tự nguyện. Trước mắt chúng ta là một thế giới bé nhỏ, chật hẹp, nhưng con người, khung cảnh không lẫn vào đâu được.
Toàn bộ cuộc đời văn học của Kim Lân nói với chúng ta rằng ở đây, cái người ta cần là một tiếng nói riêng, một thứ “mặt hàng” riêng. Những nét độc đáo của một nhà ăn vừa được chắt ra từ cuộc đời của nhà văn đó, vừa là điểm hội tụ của những yếu tố mà quê hương, cộng đồng và thời đại đã mang lại.
Quê Kim Lân, như nhiều người đã biết, ở Phù Lưu, Bắc Ninh. Làng chợ Dầu nói riêng cũng như phủ Từ Sơn cũ bao gồm cả những Đình Bảng, Sặt, Đồng Kỵ chung quanh vốn là một vùng văn vật có tiếng của đất Kinh Bắc. Con người nơi đây có thể nghèo túng nhưng vẫn cố giữ lấy vẻ tài hoa nền nếp cổ hủ, không đi đâu xa nhưng vẫn tỏ vẻ khéo léo, bặt thiệp, lại thường hay trọng sĩ diện trọng vẻ bề ngoài, đến mức đưa sự khách sáo lên thành một tiêu chuẩn sống. Cái bản sắc được củng cố và lưu truyền từ đời nọ sang đời kia ấy ở người dân chợ Dầu, sẽ vào trong văn xuôi Kim Lân, tạo nên một thứ chất đồng bằng Bắc Bộ, kín đáo, chín chắn và làm cho tác phẩm của ông có thể có ích cho một nhà xã hội học nào đó, muốn hiểu một ít về mảnh đất giàu truyền thống văn hoá này.
Nếu để ý một chút, ta sẽ thấy các nhân vật chính trong truyện ngắn của Kim Lân đều có một nét tính cách nào đó, đậm đà, đáng nhớ. Ông cả Luốn gốc me trong thiên truyện cùng tên, làm gì cũng lo giữ gia phong, và rất ngại ngần trước những thay đổi đang diễn ra chung quanh. Ông Hai trong Làng dù phải đi tản cư xa, vẫn muốn ra người có căn có cốt, đàng hoàng, có một quê hương đích đáng để tự hào. Cho đến cả anh chàng Tràng đi kéo xe bò thuê, thật ra cũng là một người đàn ông tài hoa, tự trọng, biết khoe mẽ, biết dền dứ làm trò trước người đời. Thật vậy, đầu đuôi câu chuyện Vợ nhặt của Tràng, chẳng phải là câu hò bâng quơ: “Muốn ăn cơm trắng với giò - Lại đây mà đẩy xe bò với anh” là gì? Rồi cái sự hoang toàng của Tràng giữa cảnh đói kém vẫn dám để ra hai hào mua dầu nhân ngày vợ chồng về với nhau, cũng là một nét thêm vào cái phần duyên dáng ở Tràng chứ sao! Những Tràng, ông Hai, ông cả Luốn này gợi chúng ta nhớ tới người dân ở một vùng đất khắc khổ, con người phải trầy trật mới có miếng ăn, nhưng vẫn biết tô điểm cho mảnh đất đã nuôi sống mình có được những nét đặc sắc không lẫn với mọi nơi khác. Nên biết thêm là trước đây đồng bằng Bắc Bộ nói chung, vùng Kinh Bắc nói riêng có những người thợ rất giỏi. Làm đình làm chùa, tô tượng, đúc chuông hay tỉ mỉ nặn ít con giống, phất ít đồ chơi, họ đều có sự kỹ lưỡng thành thạo và giữ được tình cảm thiêng liêng đối với nghề nghiệp. Kim Lân chính là một người thuộc vô số nghệ nhân “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” đó. Nếu nói như Nguyễn Tuân nghề văn là nghề của chữ thì người viết văn này thật đã có một tay nghề vững chãi. Trong tay những ông thợ mộc tài hoa các loại gỗ có dịp phô ra hết vẻ đẹp để trở nên đắc dụng trong từng công việc thế nào thì chữ nghĩa trong tay Kim Lân cũng như vậy. Dưới sự điều khiển của ông, những con chữ hiện ra trên mặt giấy dễ dàng, thanh thoát, đâu ra đấy mà không lộ rõ sự dụng công phiền phức, hình như từng chữ biết tìm đúng vị trí của nó để tồn tại, những chữ người khác dùng đã bao lần rồi, đến tay ông vẫn tươi mới, như vừa được dùng lần đầu. Một chút tủi thân mà Kim Lân từng cảm thấy rất rõ về thân phận mình (Đứa con người vợ lẽ) càng làm cho ông hiểu rằng, chỉ bằng sự tinh thông nghề nghiệp, một người viết văn mới có được một chỗ đứng vững chắc. Đó cũng là con đường duy nhất để đạt tới sự tự hào chân chính “Ta cũng chẳng kém gì các người!” mà trước đây, ông hằng mong ước (xem một số đoạn tự sự trong Chặng đầu đi tới Tạp chí Văn nghệ số một).
Thế rồi, cũng như nhân vật Tràng trong Vợ nhặt, Kim Lân gặp Cách mạng, được giác ngộ, tham gia Văn hoá Cứu quốc, tiếp đó là đứng trong hàng ngũ kháng chiến bên cạnh nhiều ngòi bút tài năng khác. Từ nay, là một bước đổi mới. Kim Lân từng diễn tả rất hay những biến đổi trong tâm lý một người nông dân như ông Hai. Trước ông Hai hay có lối khoe hão về làng mình rằng làng xưa quan cách thế này, chơi bời thế này. Nay, thay vào đó, là niềm tự hào vì tấm lòng son sắt của quê hương với kháng chiến. Những tình cảm ấy chính Kim Lân đã trải qua, và ông muốn ghi lại chúng thật sắc nét. Nhưng, dù viết về những ngày tản cư kháng chiến (Làng, Con chó xấu xí) hay cải cách ruộng đất (Người chú dượng) xây dựng hợp tác xã (Ông cả Luốn gốc me) thì nhà văn này vẫn trở về với vị trí xuất phát - những con người “đầu thừa đuôi thẹo”, ở “mọi xó xỉnh đời sống” như ông từng nói. Hãy thử nhớ lại truyện ngắn Con chó xấu xí. Giá kể vào tay Nam Cao, thì câu chuyện đơn sơ ấy sẽ gợi lên nhiều suy nghĩ về nỗi đời cay đắng và đơn bạc cùng những thoáng hối hận: hoá ra trong cách nhìn người, chúng ta thường chỉ căn cứ vào bề ngoài, nên rất dễ nhầm lẫn. Hoặc như vào tay Nguyên Hồng, tác giả Bỉ vỏ sẽ nồng nhiệt đứng ra chứng minh rằng trong những con người khốn khổ này, còn bao nhiêu điều tốt đẹp, và dưới ánh sáng nhân bản thì những tấm lòng vàng này không thể gọi là xấu xí được. Kim Lân không thế và không thể làm thế. Ông lặng lẽ thừa nhận rằng những gì mà mình nói tới và có thể, chính mình nữa, những thứ người, thứ vật bị hắt hủi bị ghét bỏ ấy, nhiều khi kiếp sống nhạt nhẽo và buồn thảm thật, không việc gì phải tô điểm cho đẹp và cũng không ai tô điểm nổi. Mọi sự lớn tiếng ở đây đều không phải tạng của Kim Lân. Ông chỉ ngấm ngầm truyền sang chúng ta một niềm an ủi: Những đầu thừa đuôi thẹo khốn khổ, dúm dó kia vẫn có chỗ đáng để người ta trân trọng, đối xử cho có tình nghĩa, và có lúc, nó đáng để người ta nghĩ hơn mọi thứ cao sang giả dối khác.
Kim Lân thường hay kể mặc dù mãi tới 1962 mới được viết ra, nhưng Con chó xấu xí đã được ấp ủ từ những ngày kháng chiến, khi Kim Lân cùng với Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng đi đi về về giữa những làng Thệ , Gia Điền, Sơn Cốt, ấp Cầu Cháy v.v.. vừa chạy Tây càn vừa lo làm tạp chí Văn Nghệ - cơ quan của Hội Văn nghệ Việt Nam lúc ấy. Trong cuộc đời cầm bút của nhiều tác giả, đây là những ngày sôi nổi. Nào viết, viết trong đêm lạnh, khoác chăn, quấn cả quần nâu to xù xù lên cổ ngồi viết. Nào lo đi nhà in, in báo. Trong hồi ký Những ngày Gia Điền, Nguyên Hồng từng kể lần Nguyên Hồng và Kim Lân khoác ba lô bản thảo lên vai “xuôi bờ sông Lô, qua sông Lô lên bến Thản rồi sang Thản Sơn huyện Lập Thạch” để đến nhà in. Trước khi đi, Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi còn dặn thêm:
- Ông Hồng vốn có tiếng cẩn thận giữ bản thảo thì ông chịu trách nhiệm về bản thảo. Còn ông Lân người ý tứ, tinh việc thì chịu trách nhiệm giao thiệp với nhà in. Thôi hai ông về trước mà chuẩn bị Tết và đón anh em nhé! (trích Tuyển tập Nguyên Hồng, tập II).
Hoá ra, bên cạnh thói quen hậm hụi ngồi viết, viết thật kỹ lưỡng, Kim Lân còn thuộc loại tháo vát nữa. Không bao giờ tin rằng mình tài cán gì lắm, nhưng bao giờ trong đầu ông cũng “nhấp nhỉnh những ý nghĩ” (chữ trong Vợ nhặt), tưởng là không để ý gì hết vì biết rằng nhiều việc không phải của mình - nhưng lại vẫn để ý tất cả, muốn xem xét tất cả để lo liệu và lẳng lặng tìm lấy một chỗ đứng của mình trong cuộc đời.
Tới những ngày tuổi già, khi đã chính thức về hưu, thói quen ấy, cách sống ấy càng được Kim Lân trau chuốt kỹ lưỡng. Đi họp, không mấy khi ngồi ở hàng đầu, nhưng họp gì vẫn nhớ không sót. Khi cần mới phát biểu, nhưng nói bao giờ cũng cố giữ lấy cái giọng riêng nhằm tạo được ấn tượng riêng. Những lúc rỗi ông hay kể với anh chị em lớp sau chúng tôi về những nhà văn lớp trước, để cùng suy ngẫm về đời văn của mỗi người:
- Cụ Tố mới ghê chứ. Trong các nhà văn Việt Nam đã mấy ai hiểu kỹ nông thôn bằng Ngô Tất Tố. Đến cả Nam Cao cũng không bằng được. Khi tôi viết xong cái Làng, được Ngô Tất Tố khen, tôi sướng lắm.
- Nguyên Hồng ngồi giữa đám Hà Nội vẫn có nét sang trọng riêng. Do sự tự tin của ông, nên cái vẻ ngoài lam lũ nó tan biến đi.
- Chết! Chết! Hồi ấy Nam Cao lạ lắm. Muốn thay đổi tất cả. Có lần, ông còn định viết cả truyện bắt gián điệp cơ mà.
Tính lại cả đời văn, thì Kim Lân viết ít, từ sau 1945 đến nay, chỉ lưa thưa có vài truyện ngắn. Dẫu vì lý do gì, thì sự ít ỏi này cũng là điều đáng tiếc! Kim Lân hay ngấm ngầm tự trách mình về việc đó. Một lần, nhân nói về một đồng nghiệp viết rất đều tay, viết như người thợ đóng bàn ghế, hết việc này sang việc khác mà không cần có cảm xúc gì hết, Kim Lân cũng biết là hỏng, nhưng không quên nói thêm:
- Bố ấy hỏng một đằng mà tôi, tôi lại hỏng về một đằng khác.
- Nhưng nghe nói bác vẫn “bí mật” viết cơ mà?
- Ấy, những chuyến đi công tác như đi đóng phim, hay đi giúp một trại viết nào đó, tôi đã ráp trong đầu rất kỹ. Nhưng rồi lại không viết được.
- Phải cái cuối cùng bác cho in hồi còn tạp chí Tác phẩm mới, là Bà mẹ Cầm?
- Đang viết để trên bàn, ông Nguyên Hồng đến chơi, ông ấy cầm về đấy thôi, - vẻ mặt nhà văn thoáng chút băn khoăn - chứ cái ấy mình viết đâu đã kỹ!
Cùng một lúc với sự thôi viết, ở một số nhà văn, sự đọc cũng hết cả tinh tường; khi thì quá cao đạo, gì cũng chê, chưa đọc đã chê; khi quá dễ dãi, ra điều bề trên, xoa đầu thiên hạ cho vui. Kim Lân xa lạ với cả hai thái độ cực đoan đó. Ông không quên đặt ra những yêu cầu cao với những văn chương, nhưng lại cũng thông cảm với những khó khăn của việc cầm bút, kể cả lớp người sau mình. Nhất là ông bao giờ cũng có ý vì nể người đang viết khoẻ, ngụ ý rằng nếu tất cả đều kỹ tính như mình thì còn gì là đời sống văn chương nữa. Các trại viết của Hội Nhà văn cũng như của các ngành, các địa phương thường vẫn thích mời Kim Lân đến kèm cặp hộ, và nhiều anh em mới viết rất tin nhận xét của thầy Lân. Trong sự gần gũi với lớp người mới cầm bút, nhà văn tìm lại những hy vọng của chính mình. ấy là không kể thỉnh thoảng Kim Lân được mời đi đóng phim. Kể duyên nợ giữa nhà văn với nghề diễn viên cũng dai dẳng đã gớm! Xưa, hồi mới mười tám hai mươi, ông đã lên sân khấu sắm một số vai trong các vở kịch của Mô-li-e, Vũ Trọng Can. Nay, ông lại được coi là rất thích hợp với những vai nông dân già, nghèo, sống hơi tủi phận một chút (kiểu lão Hạc trong phim Làng Vũ đại ngày ấy).
ở chỗ này, có một câu chuyện vui vui nó thể hiện cái tỉnh táo của Kim Lân. Trong một buổi họp ở Hội khoảng giữa những năm 80, nhà văn Nguyễn Minh Châu xưa nay vốn mến mộ tác giả Vợ nhặt, nhân lúc ngà ngà chén rượu, mới thổ lộ một ý nghĩ thật của mình:
- Ông Kim Lân ạ, có lẽ là ông cũng nên thôi đi đừng đóng phim nữa. Dính vào cái công việc nặc nô ấy nó làm nhảm cái nghề văn của mình đi.
Có lẽ xưa nay vẫn quý Nguyễn Minh Châu là người viết được và cũng hiểu tác giả Cửa sông, Dấu chân người lính thật bụng với mình, nên Kim Lân không nói lại, chỉ đăm đăm nghĩ một điều gì đó, vẫn cái vẻ tui tủi như mọi khi. Nhưng lát sau, khi nhà văn tên tuổi đang nổi như cồn ấy đã đi chỗ khác, ông mới quay sang mấy anh em ngồi cạnh, nói một cách đàng hoàng:
- Nói khí vô phép chứ, người thế mà cổ bỏ mẹ! Tôi không viết được là tại tôi chứ có phải tại đi đóng phim đâu. Mà nghề văn của mình đã lấy gì để bảo đảm là đứng đắn hơn các nghề khác? Còn làm được việc gì có ích, tôi còn làm. Đang lúc tàu xe khó khăn thế này, chỉ thỉnh thoảng được đi khỏi Hà Nội ít ngày đã thú lắm rồi.
Sở dĩ tôi nhớ rất kỹ mẩu đối đáp này vì nó là một trường hợp bộc lộ rõ con người Kim Lân, nó lại cũng giúp tôi hiểu được cái tình thế tế nhị ở ông hiện nay - một người ít viết và càng ngày càng ngại viết nhưng về cách tồn tại của một nhà văn thì lại cực kỳ thành thạo. Đầu 1986 cầm trên tay cuốn Anh chàng hiệp sĩ gỗ in ra từ đầu năm 1958, ông để một lúc ngồi kể với tôi về những toan tính muốn chữa lại thiên truyện vài ngàn chữ ấy. Đâu nhà xuất bản Kim Đồng muốn tái bản và nếu vậy, ông phải sửa chữa lại. Kim Lân là thế. Ông xa lạ với loại người buông thả, muốn đến đâu thì đến. Theo ông, bên cạnh sự lười biếng trông rõ rành rành ấy, còn có một lối viết như đồng thuộc, viết lấy được, thậm chí loanh quanh luẩn quẩn mang những ý cũ của mình ra xào xáo lại. Lối lười biếng ấy, trước sau nảy sinh ra sự thoái hoá, người tài năng mấy mà quá ỷ tài cũng sinh ra viết bừa, viết nhảm, tự mình phá đổ đi cái uy tín mình đã dày công xây dựng. Trước những ngòi bút viết đông viết tây, viết xuôi viết ngược đủ kiểu, sự khó tính kỹ tính của Kim Lân hoá ra có lý, ấy thế mới chết cho những ai thiếu bản lĩnh!
Liệu viết bao nhiêu tác phẩm thì một ngòi bút trở thành một nhà văn? Tôi lẩn mẩn tự đặt ra cho mình câu hỏi ấy, nhân nghĩ về trường hợp Kim Lân. Vâng, viết nhiều viết khoẻ thì hay biết mấy rồi, nhưng trong văn học vẫn có những trường hợp như Phan Huy Vịnh sống với một bài dịch, Thôi Hữu chỉ còn lại với một bài thơ, và ngay trong văn xuôi, đầu thế kỷ này, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn mỗi người chỉ có dăm bảy truyện ngắn. Cho nên, mặc dù rất tiếc là Kim Lân không viết được nhiều, tôi cũng như một số đồng nghiệp khác vẫn phải công nhận chỉ với mấy truyện ngắn đã in nhà văn này vẫn có chỗ đứng của mình trên văn đàn; Kim Lân chính là một kiểu tồn tại như thế trong cái giới nhà văn kỳ lạ thời nay./.

Biết mư­ời chỉ nên viết một

Năm 1995, V­ương Trí Nhàn từ chối chân Tr­ưởng ban văn học dịch của Hội Nhà văn nh­ưng ông lại nhận lời vào giảng phê bình văn học ở trư­ờng Viết văn Nguyễn Du (khoá V). Lớp hậu sinh mới cầm bút lúc đó rất thiếu kinh nghiệm sáng tác như­ng quá thừa sự kênh hiệu hợm hĩnh của cái danh nhà văn tư­ơng lai đã hỏi ông một cách không thư­ơng xót: "Những nhà văn có tài th­ường rất hận các nhà phê bình, thậm chí họ còn di chúc lại rằng nếu có chết thì xin đ­ược chôn cách xa mộ của các nhà phê bình. Tại sao vậy?". Tr­ước kiểu đùa hiểm ác rất thiếu văn hoá nh­ư vậy vẫn thấy Vư­ơng Trí Nhàn bình tĩnh trả lời bằng một câu chuyện đầy sức thuyết phục: "Nhà văn Nguyễn Khải cũng đã có lần trị tôi thẳng cánh khi nói về công việc phê bình của tôi nh­ư vậy. Ông bảo tôi: mày chỉ đ­ợc cái ngồi đây nghe tao nói rồi hóng hớt chứ biết gì? Tôi nói ngay: anh đừng lên mặt ban ơn cho tôi nh­ư vậy. Nếu nói chuyện với tôi anh không thấy thú vị hơn khi nói với ngư­ời khác và nói chung là hoàn toàn vô lợi lộc, thì một ng­ười ích kỷ nh­ư anh sẽ không bao giờ chịu nói". Một câu trả lời đích đáng và Vư­ơng Trí Nhàn đã khẳng định sự cần thiết hiển nhiên của môn phê bình văn học trư­ớc tất cả những nhà văn hơi có máu hoang tư­ởng về tài năng của riêng mình. Đọc những trang phê bình của V­ương Trí Nhàn (trong Cây bút đời ng­ười) nghe ông nói chuyện thì ai cũng phải công nhận rằng: V­ương Trí Nhàn chỉ viết đ­ược những gì ông hiểu rất rõ, ông có trải nghiệm cá nhân và ông rất khách quan. Một nhận xét quá cao đối với nhà phê bình như­ng không quá cao trong trư­ờng hợp V­ương Trí Nhàn. Có lẽ chính vì vậy mà những trang viết của ông rất giàu tư­ liệu sống. Ông không ngại "phê" những cây đa cây đề và luôn thể phê cả chính ông nữa. Đọc chân dung Xuân Diệu, ngoài những chi tiết văn học sử rất đáng tin cậy, chúng ta còn hiểu rõ hơn về khuyết tật con ng­ười chỉ qua một vài dòng ngoại đề trữ tình rất sâu, gần nh­ư một lời thống hối: "Như­ng còn một việc nữa làm cho Xuân Diệu chết đi sống lại- tôi đoán thế- do một ác ý, mà nhiều bạn bè của Xuân Quỳnh, trong đó có ngư­ời viết bài này (VTN) xúi bẩy Xuân Quỳnh làm: đó là không chỉ gửi riêng lá th­ư (chê Xuân Diệu càng về già càng bất tài) cho Xuân Diệu, vì làm như­ thế có thể tạo cơ hội cho Xuân Diệu tránh đòn, tức là giấu biệt lá th­ư đi không cho ai biết. Mà muốn để Xuân Diệu thảm bại, Xuân Diệu gục ngã ngay tr­ước mặt mọi ng­ười, Xuân Quỳnh sao lá thư­ này làm vài ba bản, gửi đi vài ba nơi cần thiết". Ch­a, có một nhà phê bình văn học nào của chúng ta viết đư­ợc những dòng chữ trung thực và đa nghĩa đến nh­ư vậy. Giữa trang viết và cuộc đời, theo Vư­ơng Trí Nhàn là không có khoảng cách biệt. Những nhà phê bình khác gọi Xuân Diệu là ông hoàng thi ca, hoàng tử thi ca thì Vư­ơng Trí Nhàn vẽ nên chân dung một con ngư­ời cần cù, chịu khó có công mài sắt có ngày nên kim. Rất yêu quý nhà văn Nguyễn Thanh Long nh­ưng V­ương Trí Nhàn vẫn nhận xét chính xác: "Nh­ưng có bao giờ một ngòi bút chân chính thực sự yên lòng với mình? Ngoài những trang đã viết ra, cái di chúc lớn khác mà một nhà văn chân chính để lại th­ường là nỗi khắc khoải vì biết rằng còn bao công việc đáng lẽ phải làm, nhất là đáng lẽ mình phải viết khác kia mà tự khác đi làm sao nổi". Trò chuyện với Vư­ơng Trí Nhàn mới thấy ông am hiểu nhiều lĩnh vực của đời sống, rất nhiều điều tâm huyết ông chư­a nói lên đ­ược qua những trang viết. Biết m­ười chỉ nên viết một, cuốn sách hay nhất là cuốn sắp đư­ợc viết ra- ông th­ường nói vui như­ vậy. Chẳng hạn, ông nhận xét: "ở ta có một hiện tư­ợng văn học rất lạ, lớp nhà văn sau kém hơn lớp nhà văn tr­ước". Và ông chứng minh rất rõ ràng: trư­ớc kia chỉ có những bậc trí thức lớn mới viết văn nh­ư Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Phan Huy Tự, Nguyễn Khuyến... Lớp sau đó là những nhà văn giáo viên tiểu học nh­ư Nam Cao, Xuân Diệu... còn bây giờ thì ai cũng viết văn đ­ược hết. Viết dễ quá vì họ không có kiến thức nền vững chắc, viết chiều lòng thị hiếu thời thư­ợng trong khi mục đích của văn học là phải làm cho con ng­ười ta trở nên cao th­ượng hơn, xứng đáng với danh hiệu con ng­ười hơn. Ông xót xa cho cái tâm lý cào bằng, dễ thoả mãn của nhà văn chúng ta nhưng ông cũng bất lực trong việc xác định chuẩn văn học (công việc chính của nhà phê bình văn học). Không muốn nói tới những chuyện đau đầu nh­ư vậy, ông bảo: "Con ng­ười hiện đại chúng ta đang dẹt ra theo chiều ngang, thiếu mất chiều thẳng đứng, thật buồn!". ở ngoài đời Vư­ơng Trí Nhàn cũng thận trọng nh­ư vậy. Ông bảo ông may mắn có đuợc ng­ười vợ tảo tần buôn bán ở chợ Đồng Xuân nên không phải cố viết để sống. Ông có một ngôi nhà và mảnh v­ờn rộng 300m2 bên Gia Lâm để có thể ngồi yên tĩnh ngẫm nghĩ chuyện đời, chuyện văn. Khổ một nỗi, hàng xóm của ông nuôi lợn, nuôi gà vừa mất vệ sinh vừa gây ồn quá đỗi. Biết làm sao đ­ợc, chuyện đời có bao giờ tách khỏi chuyện văn?

Quang Hải

Lý luận phê bình cần vư­ợt lên những vụn vặt tầm th­ường

Theo ông từng nói, ở Việt Nam không có nhà lý luận phê bình chuyên nghiệp. Thế như­ng bây giờ lại thấy ông ngồi làm việc trong một căn phòng bên ngoài theo tấm biển "Phòng lý luận phê bình" Thế chẳng hoá ra...

Đúng vậy. Tôi khẳng định ở Việt Nam hiện nay không có nhà lý luận phê bình chuyên nghiệp. Một số ng­ười đư­ợc đào tạo trong lĩnh vực này hẳn hoi như­ng là đào tạo để làm nghiên cứu, rồi đi dạy, đi viết sách giáo khoa. Còn phê bình chỉ là làm thêm. Bản thân tôi cũng thế. Tôi làm việc cho một nhà xuất bản nên công việc chính của tôi chính là biên tập và xuất bản sách. Một thực tế đang tồn tại là thời gian gần đây hầu hết ngư­ời viết phê bình là nhà văn, nhà thơ. Diễn đàn phê bình trên mặt báo là nơi để ng­ười ta tán những điều lặt vặt, quảng cáo sách. tâng bốc nhau, hoặc hạ bệ nhau. Hay ít, dở nhiều là một hệ quả tất yếu. Thành thử, những cuộc trao đổi về phê bình hiện nay diễn ra sôi nổi là chuyện cần thiết. Theo tôi nó cũng có cái hay. Đó là bư­ớc đầu để giúp những ngư­ời cầm bút hiểu thêm về giới mình, công việc của mình.

Đâu là nguyên nhân khiến phê bình yếu kém?

Suy cho cùng là vấn đề cơ chế. Chẳng ai dại gì mà chuyên sâu về lĩnh vực này. Những bài viết tốt phải đầu tư­ rất nhiều công sức, thời gian. Viết hẳn rất mệt. Đã thế còn "vừa bé bát gạo vừa lâu đồng tiền". Rồi biết đâu lại thêm thù, bớt bạn.

Nh­ưng trong một nền văn học lành mạnh và phát triển thì không thể thiếu lý luận phê bình. Vậy theo ông lý luận phê bình có thể đóng vai trò nh­ thế nào và hiện nay nó đang phát triển theo hư­ớng nào?

Tôi xin tạm gọi lý luận phê bình là một tự ý thức của văn học. Lý luận phê bình không chỉ dừng ở việc cân đo đong đếm, đánh giá tác phẩm, mà còn đi vào suy nghĩ, bản chất của sự sáng tạo của con đư­ờng phát triển văn học, của những qui luật chi phối đời sống con ngư­ời trong xã hội hiện đại. Chúng ta đang dừng lại ở quan niệm phê bình là sự khen chê cụ thể. Nhữ­ng cái việc tư­ởng đơn giản ấy hoá ra chẳng dễ làm. Hiện nay sách văn học được in ra một cách ồ ạt. Thơ chẳng ra thơ, tiểu thuyết chẳng ra đầu ra cuối, truyện ngắn lại nhàn nhạt. Bản thân mỗi tác phẩm phải hoàn chỉnh đến một mức nào đó mới cân đo đư­ợc, chứ làm gì có ngư­ời đủ kiên nhẫn để mà thẩm đư­ợc đống sách hỗn độn . Luôn có một nguyên tắc: đánh giá phải dựa trên chuẩn mực. Nh­ưng một khi có khủng hoảng trong vấn đề này nói chung thì sự đánh giá văn chư­ơng tuỳ tiện như­ hiện nay là đư­ơng nhiên. Thật vô lý khi đòi hỏi nó phải phát triển cho xứng với những gì ta muốn.
Có phải vì thế mà phê bình văn học hiện nay đang xuất hiện kiểu đối đầu từng cặp, ví dụ như­ : Trần Đình Sử- Trần Mạnh Hảo; Nguyễn Thanh Sơn- Nguyễn Hoàng Sơn?
Thực ra có nhiều ngư­ời sai chứ không phải chỉ các vị trên. Nh­ưng chẳng hiểu sao họ "bén duyên" nhau thế. Tôi thì vẫn nghĩ đây là sự ngẫu nhiên chứ chẳng có thù hằn cá nhân nào đâu.

Khó có thể thấy sự đố kị, nhỏ nhen trong Lý luận phê bình văn học thời kỳ chống Mỹ. Còn hiện trạng hôm nay thì khác xa. Vậy theo ông, đâu là nguyên nhân?

Có thể nói ở Việt Nam chư­a bao giờ có một nền lý luận phê bình phát triển theo đầy đủ ý nghĩa của khái niệm này. Nghề phê bình xuất hiện ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, trong đó đến nay còn đư­ợc đọc nhiều là Hoài Thanh và Vũ Ngọc Phan. Trong giai đoạn Tiền chiến, văn thơ phát triển rầm rộ thì lý luận phê bình cũng ch­ả tư­ơng xứng. Sang thời kỳ văn học Cách mạng, lý luận phê bình đư­ợc coi là nghiêm túc như­ng lại khô khan, giáo điều và thực sự chư­a có công trình nghiên cứu nào ra trò. Nhiều ngư­ời thư­ờng lý t­ưởng hoá cái cũ. Theo tôi cũng chẳng nên tiếc nuối làm gì. Một thời gian dài lý luận phê bình bị coi là làm vư­ớng chân giới sáng tác. Nh­ưng quy luật hiện đại lại khác hẳn. Ng­ười ta có quyền vừa làm vừa bàn về công việc mình làm. Thế mới xuất hiện lớp ng­ười vừa sáng tác, vừa phê bình và nảy sinh ra nhiều cuộc thảo luận. Chỉ đáng tiếc là chả cuộc trao đổi nào ra tấm ra món. Nghĩa là không đủ sức tác động vào đời sống văn học. Tình trạng thiếu văn hoá trong tranh luận ngày càng nghiêm trọng. Ng­ười ta không thảo luận mà cãi vã với nhiều động cơ cá nhân đầy ác ý, bắt bẻ vụn vặt, lấy việc hạ nhục đối thủ làm sung s­ớng. Trong khi đó nội dung ý kiến phần nhiều tẻ nhạt, hời hợt.

Các nhà lý luận phê bình cần làm gì và cần đ­ợc trang bị những gì?

Tối thiểu phải chỉ cho ngư­ời viết thấy đ­ược cái sai, cái ch­ả đư­ợc, cái tích cực trong sáng tác của họ. Tôi tạm ví phê bình nh­ư ng­ười thợ ảnh, nếu ghi hệt đ­ược những nét tầm th­ường, nhếch nhác ở đối t­ượng cũng là đóng góp rồi. Cả ngư­ời viết văn lẫn ng­ười viết phê bình phải cùng có trách nhiệm, yêu cầu cao về nghề nghiệp.

Thế các nhà phê bình chỉ biết vạch ra cái sai của ng­ười sáng tác mà không mách cho họ cách khắc phục sao?

Ngư­ời bệnh sẽ tìm thầy thuốc khi hiểu thật kỹ, thật sâu sắc căn bệnh của mình.
Như­ ông đã nói sự hỗn độn trong lý luận phê bình hiện nay là chuyện bình th­ường nh­ưng thay đổi nó là một việc quá khó. Có mâu thuẫn nào ở đây chăng?

Hãy thử xem một đám cãi nhau ngoài đư­ờng biết ngay chẳng có phải trái gì, càng gay cấn càng đông ngư­ời xem, ai mạnh mồm ng­ười ấy đư­ợc. Lý luận phê bình của chúng ta hiện nay cũng na ná nh­ư vậy. Nhìn vào tình hình ở nhiều lĩnh vực khác thấy đâu có hơn. Trong guồng quay này, lý luận phê bình khó mà tách ra đư­ợc. Tôi nói tình hình bình th­ường là theo nghĩa đó. Mà cũng vì thế nên nó khó thay đổi.

Lâu nay ng­ười ta vẫn thắc mắc tại sao không thấy một "bóng hồng" nào trong làng lý luận phê bình văn học nư­ớc nhà. Ông có thể giải thích vấn đề này?

Ngoài sự sâu sắc và nhạy cảm, ngư­ời viết phê bình lý luận còn phải biết "chịu đòn". Các khả năng ấy, đàn ông sinh ra trên đời đ­ược (hay giời ban cho) nhiều hơn. Âu cũng là số phận cả thôi.

Th­ưa ông, anh Phạm Xuân nguyên là một trong những ngư­ời trẻ nhất của giới lý luận phê bình văn học bảo rằng, đã 20 tuổi Đảng, hơn 20 tuổi nghề mà vẫn ch­ưa đ­ược tin cậy. Thế thì làm sao ta có thể phát triển đội ngũ kế cận kịp thời đư­ợc?

Nh­ư tôi đã nói, ở nư­ớc ta hiện nay chư­a ở đâu đào tạo ra những nhà lý luận phê bình có bài bản, trong khi đây là một công việc đòi hỏi kiến thức sâu rộng, nhiều kinh nghiệm. Nhữ­ng chế độ ­u đãi cả về vật chất lẫn tinh thần vẫn ch­ưa t­ương xứng. Bên cạnh đó, lớp trẻ hôm nay đang phải chứng kiến những gì mà các bậc cha chú của mình làm nên chúng ngại. Xin hãy nhìn nhận và đối xử với lý luận phê bình một cách hợp lý hơn. Có nh­ư thế mới v­ượt lên đ­ược những vụn vặt tầm th­ường để nghĩ sâu vào những vẫn đề có liên quan chung với cả một nền văn học.

Xin cảm ơn ông.
Thu Hồng

Với độc giả chúng ta là người có lỗi

Hỏi chuyện văn chương Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn:

Thưa anh, chuyên mục Hỏi chuyện văn chương của Văn nghệ trẻ xin được phỏng vấn anh- một nhà phê bình văn học, lại gắn bó lâu năm với công việc xuất bản- về mối quan hệ giữa văn chương và độc giả hiện nay. Trước tiên xin anh cho biết độc giả giữ vai trò như thế nào trong suy nghĩ hàng ngày của anh về nghề nghiệp.

Vương Trí Nhàn: Không rõ những người viết văn khác như thế nào, riêng tôi, bao giờ viết tôi cũng thường nghĩ đến độc giả. Bảo rằng tôi rất e sợ họ nữa cũng được. Trước họ, tôi chẳng có một thứ gì gọi là quyền hành. Rất có thể họ chỉ cầm trang báo có bài viết của tôi lên rồi lướt qua rất nhanh và bỏ luôn. Mà như thế thì tủi thân lắm. Vậy phải viết làm sao để họ có nhu cầu đọc mình. Chẳng những thế, lại còn có thể tìm ở họ những tác động ngược để giúp mình viết tốt hơn.

Thường thì anh thích viết cho loại độc giả nào?


Chỗ này phải nhận là tôi hơi tham. Tôi thích viết thế nào đó để cho những người khác nhau cũng có thể đọc được. Có thể đó là những ông giáo sư, tiến sĩ tôi quen biết (tôi là cái anh không có bằng cấp gì, nhưng cũng có đi lại chuyện trò một số người như thế, và nếu tôi không lầm, thì họ cũng coi tôi như một đồng nghiệp, chứ không phải mình chơi trèo hay học làm sang gì đâu!). Mà cũng có thể đó là những người làm đủ các loại nghề khác, không có quan hệ trực tiếp tới văn học. Không loại trừ trong số này có cả những người đạp xích lô, người bán hàng rong. Chinh phục được loại thứ hai này cũng thú vị lắm. Ngay từ những năm 1968-70, nhà văn Nguyễn Khải có lần nói với tôi rằng nói chuyện với thanh niên là khó nhất. Họ vội vã sống. Họ không có thì giờ để nghe những chuyện cà kê dài dòng và khi không thích là họ bỏ đi liền. Cho nên nói chuyện thế nào để thanh niên nó nghe được mới thấy sướng. Viết cũng tương tự như vậy.

Anh có thể giải thích cụ thể về cách mà bạn đọc tác động tới anh?


Mong có nhiều người đọc, nhưng lúc viết tôi thường hình dung như bên cạnh mình có một độc giả rất là khó tính, rất là uyên bác, mà cũng rất là thạo đời... để lấy đà phấn đấu. Người độc giả lý tưởng này biết tất cả. Họ biết chỗ này tôi nói dối, chỗ kia tôi không đọc mà cứ nói liều, chỗ khác nữa thì suy nghĩ không kỹ, chẳng qua cũng chỉ diễn lại vài ý người đời ai cũng biết. Tôi thường đặt ra một loại độc giả rất cao như vậy rồi xác định viết để đối thoại với họ. Khi nghĩ được rằng vẫn còn một người nào đấy tin mình, chờ mình, phải viết sao để đáp ứng lại sự chờ đợi của người đó, tự nhiên người ta có cớ để cố và bớt viết những cái lăng nhăng đi.

Nhận xét của anh về độc giả hôm nay?


Đạo diễn sân khấu Nguyễn Đình Nghi có lần bảo tôi: cái căn bản của sân khấu ngày trước là rất nghiêm túc, còn bây giờ lắm khi vào rạp người ta cắn hạt dưa, rồi thì cười nói rúc rích thì còn ra sao nữa. Chúng ta đang thiếu cái gọi là "công chúng chọn lọc". Lớp "công chúng chọn lọc" này đóng vai trò dẫn dắt những công chúng khác. Chính họ là cái người đối thoại với tác giả. Quay trở về với lĩnh vực văn chương, thời bao cấp, chúng ta có một loại độc giả rất là tốt, chịu đọc, suy nghĩ nghiêm túc. Mà nay thì không có, hoặc đúng hơn cũng có, lúc nào cũng vẫn còn, nhưng hình như ngày một ít đi, ngày một lép vế.

Tức là, như người ta hay nói: văn hoá đọc hiện nay giảm sút?


Hồi trước số đầu sách thì ít nhưng số lượng in của từng cuốn lớn lắm. Và người ta săn sách kinh khủng. Chúng tôi cũng vậy, mỗi lần đi công tác các tỉnh, thế nào cũng sục vào các hiệu sách xem có cuốn nào hay còn sót thì mua. Lúc nào cũng như đang trong tình trạng đói sách. Còn gần đây, độc giả có tình trạng ngược lại: quá no. Một số trở nên dễ tính, yêu cầu của họ cũng thấp. Ngày trước, văn học mang đậm tính chất giáo dục, nó thiêng liêng quá, mà lại thiếu sự thông cảm với những yêu cầu bình thường của con người, thiếu chất giải trí. Nhưng mà bây giờ thì lại nhiều chất giải trí quá. Có nhiều cuốn sách, không ít người kêu là dở nhưng lại bán chạy, nhìn kỹ thì thấy chẳng qua ở đó, tác giả đóng vai trò mua vui khi trêu chọc khi nịnh nọt độc giả.
Nhìn chung nay là lúc trong độc giả đang có sự phân hoá. Có lẽ là chúng ta cần một cuộc khảo sát.

Theo anh, đã xuất hiện những độc giả mới, có cách ứng xử với sách văn chương không theo "chuẩn mực" như trước đây và anh không hẳn tin ở cách đánh giá của họ?

Đúng vậy. Hiện có những cây bút tự hào là rất ăn khách, rồi vin vào cớ đó đi rêu rao rằng tác phẩm của mình toàn là văn chương thứ thiệt, là những giá trị lâu dài. Tôi không có cách gì để cãi lại họ, chỉ biết rằng tôi tin ở một loại độc giả khác, phấn đấu cho một loại độc giả khác.

Đâu là nguyên nhân của sự phân hoá độc giả như anh vừa nói?


Tại sao loại độc giả lý tưởng của văn học lại đang ít đi, hay đang bị ít đi: mà loại độc giả đùa bỡn, đối xử với sách như một thứ trò mua vui vớ va vớ vẩn thì lại có vẻ ngày càng nhiều hơn? Theo tôi thì có hai lý do thế này: Một là sau một thời gian lý tưởng hoá văn chương, coi tác phẩm văn chương như thần như thánh, một số độc giả thấy chán. Chán sách, học chán luôn cả văn học. Hai nữa là lớp trẻ bây giờ họ ra đời trong điều kiện ti vi đầy ra, các phương tiện thông tin đầy ra. Bóng đá và các thứ khác nó lôi cuốn họ. Cái họ cần, không thấy có trong sách.

Thưa anh, phải chăng đó chỉ là kết luận khi chúng ta nhìn nhận từ thực tế ở chốn thị thành? Còn độc giả đông đảo ở nông thôn, vùng sâu vùng xa? Họ có được vậy không và có đến thế không?


Chính vì không rõ là ở những vùng ấy độc giả hiện nay đọc sách ra sao, nên tôi mới đề nghị phải có những cuộc điều tra, thậm chí điều tra thường xuyên. Tuy nhiên tôi ngờ rằng ở đó quá trình phân hoá này cũng đang xảy ra.

Đứng trước thực trạng như vậy, chúng ta có thể nói gì về trách nhiệm của những người viết văn?


Phải nhận chính chúng ta là người có lỗi. Văn chương góp phần tạo ra độc giả, rồi độc giả lại góp phần vào việc định hướng văn chương, hai bên góp phần sinh thành đạo tạo ra nhau. Nói thế để ta tự nhận lấy phần trách nhiệm của ta. Cụ thể là, theo tôi, mỗi người viết văn cần đặt cho mình yêu cầu cao tự nâng mình lên. Giống như đi tu ấy. Phấn đấu hàng ngày. Bây giờ, có nhiều bạn viết mang tâm lý thế này: cái gì mình viết ra thì cần phải có người khen ngay hay chê ngay ? Tại sao lại không nghĩ rằng: vài năm sau người ta mới hiểu mình? Xưa, các cụ có câu: "Tiên trách kỷ, hậu trách nhân". Chính cái sự tự trọng ấy của người viết sẽ có tác động tích cực đối với sự đọc văn chương của độc giả.

Và sự nghiêm túc, nghiêm khắc của nghề văn không chỉ được thể hiện qua các tác phẩm như thơ, trường ca, truyện ngắn, tiểu thuyết v.v. mà còn được thể hiện trong cả những bài viết nhỏ in báo và ngay cả trong những ý kiến nhà văn phát miệng nơi này, nơi khác?


Vâng, đúng là như thế. Bây giờ báo nhiều nên mấy ông ham nói, nói nhiều, nói dai, nói dài tha hồ múa may. Thực ra, trong ý nghĩa sâu sắc của nó, văn học đòi hỏi chúng ta phải làm ra những thứ tinh luyện hơn, kỹ lưỡng hơn. Cũng như trong đời sống nhiều người chúng ta đang mắc bệnh nói nhiều trong khi con người hiện đại cần thanh cao hơn, hợp lý hơn, từ tốn hơn. Một điểm nữa tôi xin nói tạt ngang nay là lúc chúng ta sẵn sàng khề khà trò chuyện với nhau mà lại ít đọc nhau. Lẽ ra nếu còn lương tâm nghề nghiệp, thì nên dành thì giờ mà đọc nhau, mà tập trung cho việc sáng tác. Tôi đã nghe có người chê rằng như thế là già, là cổ lỗ lắm rồi. Nhưng cái tạng của tôi là thế, với văn chương không bao giờ tôi dám coi là chuyện đùa bỡn, với những gì thuộc về tương lai lại càng không thể đùa bỡn.

Quay trở lại với vấn đề độc giả, theo anh thì làm thế nào để có thể "tổ chức độc giả" cho nền văn học của chúng ta?


Trước mắt phải lo sao có những tác phẩm tương đối có giá trị thì mới có sức lôi cuốn bạn đọc. Tuy nhiên, khi đã có sách, lại cũng cần có những sáng kiến cụ thể. Tôi nghĩ báo chí nên dành thêm chỗ cho độc giả phát biểu. Các tờ báo, các nhà xuất bản có thể nghĩ ở các hình thức giao lưu khác nhau, ví dụ có thêm những buổi gặp mặt tiếc xúc với bạn đọc. Hoặc có những cuốn sách mang ra cho bạn đọc bỏ phiếu, cuốn nào được nhiều người thích thì coi như được nhận một thứ giải thưởng, tạm gọi là giải của bạn đọc. Có giải của bạn đọc thanh thiếu niên, giải của bạn đọc lớn tuổi v.v... Nói cho to tát tức là cần có cách để khôi phục cảm giác thiêng liêng của văn học trong lòng bạn đọc.
Nói thì dễ nhưng làm thì khó lắm. Năm ngoái năm kia, nhà xuất bản nơi tôi công tác có in một cuốn sách của một nhà văn nổi tiếng, tôi mới nói hay là bây giờ ta họp mặt bạn đọc để tác giả giới thiệu sách rồi ai thích thì xin chữ ký tác giả. Nhưung Giám đốc nhà xuất bản bác đi ngay: nhỡ tổ chức ra mà quá ít người đến thì sao? Nhỡ người ta có đến mà người ta không mua sách thì sao? Ai dám tự nhận là nắm chắc được độc giả bây giờ?!. Thế là lại thôi. Tuy vậy, với tư cách một người làm xuất bản và một người có viết sách, tôi vẫn tin ở những độc giả lý tưởng của mình và cố làm việc cố viết để khỏi phụ lòng những độc giả đó.
Xin cảm ơn anh!
PVNNT
(Văn nghệ trẻ số 386 ngày 18-4-2004)

"Không nên viết những gì thấp kém hơn cái đã có của mình"

Bàn về quan điểm của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trên tạp chí Ngày nay, số 6, ra ngày 15-3-2004
Là một nhà nghiên cứu lão luyện trong làng văn, ông đánh giá thế nào về quan điểm trong bài viết của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp?

Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn: Điều gây ấn tượng đậm nhất trong bài viết của Nguyễn Huy Thiệp là những mệnh đề có khả năng thách thức, mời gọi tranh cãi. Nếu chúng được mang ra thảo luận cho kỹ, sẽ có lợi cho sự sáng tác nói chung. Cố nhiên, người ta chỉ nên nói vậy khi có lý lẽ xác đáng, thậm chí phải trình bày cách hiểu của mình về những chữ như "vô học" hoặc "lưu manh" ra sao, rồi đưa ra những ví dụ cụ thể để chứng minh. Nhưng đó là việc khó nên anh Thiệp lướt đi rất nhanh rồi nói sang các chuyện khác. Ngược lại, những người phản bác anh Thiệp (qua những câu chuyện quanh chén nước trà cũng như trong các bài viết đến hôm nay đã đăng trên mặt báo) cũng chỉ muốn nói to lên cái ý "nhà văn ta không vô học, không lưu manh", rồi quay ra chê anh Thiệp là nói người mà không quay lại nhìn chính mình, hoặc chẳng qua bí quá trong sáng tác nên nói càn như vậy. Chứ cũng không ai chứng minh cụ thể xem chúng ta không "vô học" không "lưu manh" là ở những điểm nào.
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có viết về tình trạng các nhà phê bình văn học hiện nay là cứ mũ cao, áo dài và giữ nguyên cung cách chuyên chế, áp chế kiểu "các cụ"... Ông nghĩ gì về điều này? Theo ông, phải chăng chính những nhà phê bình trước đây từng "lăng xê" Nguyễn Huy Thiệp cũng mắc phải những "phẩm chất" trên?

Đây là một trong những chỗ anh Thiệp can tội hàm hồ. Theo tôi, cái gọi là giới phê bình hiện nay cũng có đủ các loại người: Mũ cao áo dài có, ngồi rỗi tán nhảm không ít, mà những người chăm chú theo dõi đời sống tác tác lúc nào vẫn còn. Vậy không thể và không nên xếp họ chung vào một rọ.

Theo ông thì phản ứng tốt nhất, nhân bản nhất và kẻ sĩ nhất của một nhà văn đang trong giai đoạn bị độc giả lãng quên là gì? Nếu cách tốt nhất mà nhà văn đó không thể theo được thì hẳn là vẫn còn một cách thứ hai?


Trước tiên phải nói rõ đây là loại độc giả nào. Những người có trình độ và muốn suy nghĩ thêm về việc đời qua văn chương? Hay đám rỗi rãi chỉ thích chọc ghẹo rồi cười hô hố trước những lời bông lơn của tác giả? Một nhà văn quan tâm loại độc giả thứ nhất làm sao không buồn được khi họ bị lãng quên?! Ngay bản thân cái việc dám nhìn thẳng vào sự thật là dường như chẳng ai tử tế muốn đọc mình cũng là là một việc rất khó khăn rồi, chỉ những người thật dũng cảm mới làm nổi. Một số trong họ sẽ tìm được cách vượt lên để làm những cuộc chinh phục mới. Số khác thà bỏ đi làm nghề khác còn hơn viết ra những trang thấp kém hơn cái đã có tốt đẹp của mình. Có điều, số những nhà văn này không nhiều. Số còn lại thường tự phỉnh nịnh, hoặc cho là đời không hiểu mình, hoặc tự nhủ đang có vô khối kẻ tri âm yêu mến mình (mà số đọc giả ẩm ương này thì cũng không khó tìm lắm!). Thế rồi họ vẫn "sinh đẻ" sòn sòn, và chắc chắn không biết buồn là gì, càng không tính chuyện tự lột xác, tự thay đổi để vươn lên. Thành ra mới có những nhà văn đang viết mà tắc thì quay ra nói nhăng nói cuội.

Theo ông, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã viết bài tiểu luận đó trong một tâm trạng thế nào? Có người cho rằng đó là tâm trạng của người đã "hết hơi" trong sáng tác?


Chuyện nói Nguyễn Huy Thiệp lâu nay viết lách lâm vào tình trạng bí bách, thì tôi không phản đối. Nhưng tôi để dành suy nghĩ của mình vào việc khác: Ví dụ lúc nào đó có thể viết một bài tìm hiểu cái bí chung của các nhà văn ở ta hiện nay là gì, và họ thường trốn chạy cái sự thực đó như thế nào. Viết để tác động vào phong trào sáng tác nói chung, chứ không phải để biểu dương hay hạ bệ, rỉa rói riêng anh Thiệp. Có phải nhờ nói được mấy câu khiến một người thật đau mà dư luận coi trọng ta hơn đâu!

Tại sao có hiện tượng một số nhà văn chỉ viết được một hoặc hai tác phẩm có giá trị thực, gây được ấn tượng với người đọc? Có ý kiến cho rằng, đó là vì vốn văn hoá có hạn và vì cái hư danh đã khiến họ tiếp tục làm hàng "nhái", những "món hàng" mà họ tưởng sẽ tiếp tục được tung hô. Ông nghĩ sao về nhận xét này?


Có lần tôi đã "bịa" ra một cuộc phỏng vấn tưởng tượng về Tản Đà để rồi sau khi nêu câu hỏi "Người ta có học để trở thành thi sĩ được không?" , tôi đã đặt vào miệng Tản Đà câu trả lời "Không. Nhưng phải học thì mới trở thành được thi sĩ lớn!" (Bài in trong cuốn Những kiếp hoa dại 1993). ác một nỗi là học hơi mệt nên nhiều người ngại học, rồi khái quát lên thành cả một thứ lý luận là không cần học, học lắm chỉ tổ chịu ảnh hưởng của người khác. Nhưng quả thực học được là cả một chuyện khó, có người định học để gây cho mình một lưng vốn văn hoá khơ khớ, nhưng vì mặt bằng ban đầu thấp quá, học không nổi, sau mới xoay qua thứ lý luận không nên học để yên tâm mài mình ra mà viết, viết mãi một kiểu.

Khoảng cách "xa nhất" và là khoảng cách có thể cho phép giữa trái tim nhà văn và tinh thần dân tộc được thể hiện như thế nào? Nhà văn có thể nhân danh điều gì khác để có thể không cần đến lòng tự tôn của nền văn hoá đã sinh ra mình không?


Tôi lớn lên trong một gia đình nghèo. Tôi biết cha mẹ tôi đã hy sinh rất nhiều để tôi được ăn học như mọi người. Song phải nói thật là nếu so sánh cuộc sống của tôi bây giờ với cuộc sống của gia đình ngày xưa, thì rõ là có nhiều chỗ khác. Chỗ bắt đầu của sự khác ấy là cái nhận thức. Không vì biết ơn các cụ mà ta cứ bảo rằng cái gì của người xưa cũng đều tốt đẹp.
Tôi nghĩ rằng khi xét mối quan hệ mỗi công dân với nền văn hoá dân tộc cũng nên có cách hiểu và xử sự tương tự. Từ đầu năm 2003 đến nay, tôi có làm cho một tờ báo một mục nhỏ mang tên "Những lời cảnh tỉnh của người xưa", trong đó tôi sưu tầm nhận xét của các bậc tiền bối về thói hư tật xấu. Điều làm tôi ngạc nhiên là chính những người yêu nước thương nòi, những người tỉnh táo nhất trong quá khứ- những Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng v.v... lại có những nhận xét nghiêm khắc khiến ta giật mình (Nói riêng cái chuyện mối quan hệ với thơ ca thôi, từ xưa đã có bao nhiêu lời than phiền rằng thơ ta nặng về sáo rỗng, quá nhiều thứ thơ thù tạc, nếu không ru rín vuốt ve người ta thì cũng chẳng có ích lợi gì cho nhân sinh). Các bậc trí giả ấy thật đã nêu cho chúng ta một bài học về lòng yêu mến đối với các giá trị cũ: Phải biết sàng lọc, đồng thời với việc tôn vinh những cái hay, cái đẹp cũng phải mạnh dạn từ bỏ những cái kém, cái dở. Khi đó, lòng tự tôn dân tộc mới có được cái ý nghĩa chân chính mà nó phải có.
(Công an nhân dân số 42 (1825) ngày 6-4-2004)
Tuyết Nhi

mười năm trên giá sách văn chương

Sau bài đối thoại bàn tròn Mười năm trên giá sách văn chương (SVVN số 3, ra ngày 5-11-2003)... SVVN tiếp tục trở lại vấn đề này ở một cuộc trao đổi với nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn
Tiếp tục câu chuyện
mười năm trên giá sách văn chương

Là một người làm nghiên phê bình có dịp sống gần gũi, hiểu biết về giới nhà văn cùng thời cũng như theo sát những diễn biến của đời sống văn học trong và ngoài nước, ông có nhận xét ra sao khi nhìn nhận lại văn chương Việt Nam ở một khoảng lùi hơn 10 năm?

Lâu nay trong giới nhiều người thường vẫn đã nhận xét với nhau rằng văn học ta đang ở vào giai đoạn khó khăn, sách in ra thì có, song đại đa số chỉ ở mức "tầm tầm", "làng nhàng" mà hiếm tác phẩm hay. Các anh Nguyên Ngọc, Dương Tường, Trung Trung Đỉnh nói thẳng hơn: Chúng ta đang lúng túng, ì ạch: chúng ta đang dừng lại. Thời tiền chiến, từ 1932 tới 1945, chỉ hơn chục năm mà hầu như năm nào cũng có những tác phẩm ngày nay còn phải tái bản. Số lượng ở đây là dấu hiệu của chất lượng, chất lượng của cả một thời đại văn chương. Hoặc nhìn sang một nền văn học mà gần đây ta dịch nhiều như văn học Trung Quốc, thấy nhà văn bên đó, kể cả các cây bút sinh những năm 50-60, đã sớm có một sự nghiệp đồ sộ và đạt tới những chuẩn mực quốc tế trong sáng tác, họ lo chinh phục bạn đọc cả thế giới, chứ không tính chuyện chèo kéo theo kiểu ranh vặt hay ngồi chờ xem có ai thương tình đến dịch cho một vài cuốn sách. Còn như tình hình ở ta hôm nay, tôi nhớ anh Lê Lựu có lần nói rằng không đọc vài năm cũng không thấy lạc hậu. Trong Lửa thiêng, Huy Cận từng ghi lại cái tình trạng Quanh quẩn lại với vài ba bóng dáng- Tới hay lui cũng từng ấy mặt người. Xưa thế mà nay cũng thế; Chỉ có cái cũ là bền, còn cái mới quá mong manh và chẳng mấy chốc lại hiện nguyên hình... bộ mặt cũ.

Các nhà văn tham gia bàn tròn đã thử lý giải sự bất cập này. Ông thấy có cần bổ sung điều gì?

Anh Nguyên Ngọc đã nói tới vốn liếng của các nhà văn, cái phần gọi là văn hoá cơ bản, nhất là nền tảng triết học, quá thấp. Tôi muốn nhấn mạnh thêm: cái sự thiếu cơ bản ấy kéo dài, nó ăn vào nhân cách, vào tầm vóc nhà văn. Tức là lý tưởng nghề nghiệp của chúng ta, quan niệm của người cầm bút về văn chương đang có vấn đề... Cái chuyện này lôi thôi hơn việc đọc một vài quyển sách rất nhiều, và do chỗ nó không phải là bệnh riêng của giới nhà văn nên lại càng thấy đáng ngại.

Xin ông nói rõ hơn về thực tế sáng tác văn chương hiện nay?

Những tác phẩm văn chương có giá trị sẽ có đóng góp lớn vào sự phát triển nhân cách con người, làm cho người ta có một đời sống tinh thần phong phú lành mạnh, sống đẹp lên, tử tế, cao thượng và sang trọng hơn. Một nền văn học như thế chẳng những ta chưa có, mà điều nguy hơn, là chưa tin rằnh mình có thể làm được, chưa kiên trì ủng hộ nhau, thúc đẩy nhau cùng làm. Các thày dạy văn lo dạy cho học trò cách thưởng thức văn chương, còn các nhà thơ sau khi làm được ít câu thơ hay muốn người đọc chia sẻ với mình ít niềm vui bếp núc- những việc đó rất cần. Nhưng với tư cách một công cụ tự ý thức của văn học, lý luận phê bình không thể dừng lại ở chỗ đó. Văn học là gì, chúng ta đã có một nền văn học như thế nào và rồi ta phải tự làm khác mình đi thế nào, những vấn đề ấy phải là mối bận tâm lớn của cả giới sáng tác cũng như trở thành lo nghĩ thiết thân của mỗi người cầm bút. Gần đây, ngược lại, thấy một số đồng nghiệp khi gặp nhau chỉ kháo ai mới xoay được món tài trợ rất bở, ai sắp bán được mớ sách ế với giá cao, ai đang chạy cái giải thưởng nọ giải thưởng kia, cùng lắm thì ai vừa vớ được vài ý tưởng rất lạ trên báo Tây và sắp sửa mang ra trộ thiên hạ.... Sự tầm thường trong quan niệm, lẽ tự nhiên, dẫn tới sự tầm thường trong kết quả.
Chẳng cứ văn học mà nhiều ngành hoạt động khác cũng vậy. Học thuật tiêu điều; sách in nhiều nhưng chạy nhất là sách đọc chơi, sách phong thuỷ, sách dậy làm giàu; phim ảnh khuyến khích xu hướng giải trí rẻ tiền hoặc nhập "rác" của nước ngoài về; âm nhạc thì hỗn loạn. Và như thế làm sao đòi hỏi văn chương có những tác phẩm lớn được?
Đúng là nhìn ra xã hội đang thấy có nhiều điều phải lo. Tôi nhớ hồi SEA games có mỗi cái việc cỏn con là bán vé bóng đá cũng loạn hết cả lên, rồi mỗi lần đến Tết là xe tàu đầy vé chợ đen, phố xá cứ mưa xuống là ngập... Tiếp nhận văn hoá đại chúng nước ngoài cũng thế, ba cái mốt tóc tai xanh đỏ thì nhập cuộc bắt chước rất nhanh nhưng những cái tử tế, mới mẻ của người ta thì chả học được gì. Trong tất cả những việc này chính văn học cũng có lỗi. Thơ văn chưa giúp cho con người tốt hơn, tử tế với nhau hơn như lẽ ra nó phải thế.

Có phải là do áp lực của kinh tế thị trường nên văn học mới quên mất chức năng của mình?

Một phần vậy. Tôi đọc thấy một nhà văn Nga là D.Granin gần đây nói rằng thời Xô viết nhìn vào giới cầm bút còn thấy có những nét mặt ưu tư; thay vào chỗ đó, thời nay toàn những khuôn mặt hãnh tiến của đám trưởng giả mới phất. Thế nhưng ngay ở Nga, bộ phận văn học chân chính vẫn làm việc nghiêm túc và có những đổi mới thực sự. Còn ở ta, sở dĩ những yếu tố mới non yếu vì cái nền chung của ta thấp, đã thế lại mải mê lao vào cuộc kiếm sống. Trong tập Những kiếp hoa dại in 1993, tôi đã thử nêu mấy đặc điểm của các nhà văn ở ta: thiếu tính chuyên nghiệp; không tự đào tạo thành những trí thức; và quan liêu hoá nhanh chóng. Đến nay, nhưng căn bệnh đó chưa hết mà chỉ bộc lộ thêm những biến chứng mới.

Trở lại với chuyện thay đổi trong văn học. Nhà văn Nguyên Ngọc có nói đại ý bắt đầu từ Nỗi buồn chiến tranh, chúng ta mới có tiểu thuyết hiện đại còn về cơ bản trước đó là sử thi. Có khá nhiều phản hồi khác nhau về ý kiến cực đoan này. Bản thân ông nhìn nhận ra sao?


Có thể nói trong phạm vi văn học ở ta, hai cuốn Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc và Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là hai dấu mốc, hai đỉnh cao của tiểu thuyết sử thi và tiểu thuyết hiện đại. Nhưng cho rằng tới Bảo Ninh chúng ta mới có tiểu thuyết hiện đại là không đúng. Bởi nói một cách sơ lược, tư duy hiện đại trước tiên là quan sát thực tế ở khoảng cách gần, tiếp cận nó một cách suồng sã; không lý tưởng hoá nó, diễn tả nó như chủ quan mong muốn; mà chỉ muốn nhìn muốn nắm bắt nó như chính nó vốn vậy. Lối tư duy này quan niệm cái thực là cái khó nhất trong văn học, nó không chiều theo ý con người và thường khi lại lung linh ẩn hiện sau nhiều mặt nạ; nhưng dù vất vả đau xót đến mấy thì cũng phải tìm cho được, phải có cách gọi tên chỉ mặt nó một cách đích xác. Theo nghĩa này, tư duy hiện đại đã có ở một số người đi trước, như ở một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu (tập Bến quê), ở tiều thuyết Lê Lựu (Thời xa vắng), Ma Văn Kháng (Đám cưới không có giấy giá thú). Nguyễn Khải là một trường hợp rất lạ, tư duy hiện đại ở ông đã hình thành từ hồi viết Xung đột (1957), nhưng suốt thời gian cầm bút, lối tư duy ấy chỉ được ông sử dụng trong phạm vi những quan sát chật hẹp, tác giả kiềm chế nó và buộc nó dừng lại nửa vời. Chính trong một hoàn chung như thế mà Nguyễn Huy Thiệp nổi bật lên với cái nhìn soi mói, không ngại sống sượng thô lỗ, miễn sao vạch vôi đánh dấu được thực tế. Nhìn chung tôi cho rằng những yếu tố mới trong tư duy văn học ở ta lúc nào cũng có, bởi đó là áp lực của thời đại, là một nhu cầu thực tế, nhưng nó lại chỉ xuất hiện theo kiểu tự phát, không được nâng lên thành lý luận, càng không được đẩy tới cùng, nên không đủ sức tạo thành một dòng chảy mạnh mẽ.

ý kiến cuối cùng của các nhà văn tham dự bàn tròn là phải dành thêm nhiều tiền của cho việc giới thiệu văn học nước ngoài. Đâu là đề nghị của riêng ông?


Đồng ý, nhưng tôi cho rằng nên thực tế một chút. Nghề dịch bị coi thường lâu quá nên người có tài bỏ hết, lớp trẻ lâu nay có học ngoại ngữ chỉ lo tìm việc dịch miệng kiếm tiền, thành thử bây giờ có tiền tỉ bỏ ra cũng không phải đã thu ngay được hiệu quả. Đồng thời với dịch thuật, theo tôi một việc còn cần kíp hơn là lôi cuốn mọi người vào cuộc tự vấn, tức ngồi bình tâm nghĩ lại mọi điều, trông trước trông sau, theo dõi văn học nước ngoài một cách sát sao, rút kinh nghiệm chuyện cũ, tính toán cho hết mọi việc phải làm từ nay về sau. Giá kể do cùng ngồi nghĩ ngợi như vậy mà có phải bớt đi một ít sáng tác dở thì cũng không có gì phải hối tiếc.

(Sinh viên Việt Nam ra ngày 18-2-2004)
Lê Hồng Lâm

Đọc chuyện cũ văn chương

Vốn đã thiện cảm (dẫu có hơi muộn) với ngòi bút Vương Trí Nhàn từ bài giới thiệu kỹ càng và súc tích của ông dài đến mười ba trang chữ li ti cho Thao thức - tiểu thuyết bộ đôi của nhà văn Nga xô viết nổi tiếng Alêcxanđro Krông (Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1983) và sau đó là bài viết gửi từ Liên xô cũ) về in trên báo Văn nghệ (1987): Hình dung về Nguyễn Huy Thiệp hồi ông Thiệp đang nổi lên như một hiện tượng văn học, tôi đã đọc ngay Những kiếp hoa dại (1993), tiếp đấy là Cánh bướm và đoá hướng dương (1999), và giờ thì đến Chuyện cũ văn chương (2001) của ông. Ba cuốn sách (trong đó hai cuốn đều đã được trong Nam, ngoài Bắc tái bản) nối gót nhau ra đời thảy đều "chuyện vãn" về văn chương hiện thời hoặc xưa cũ ở ta.
Nếu... hoa dại ít nhiều gai ngạnh và Cánh bướm... lại hoa lá điệu đà, thì Chuyện cũ văn chương, thoạt xem dường như chả có vẻ gì là đang làm văn vẻ- ấy vậy mà đầy vẻ văn!
Sách dày 380 trang mà có tới 64 bài: du di cái nọ cái kia, mỗi bài chỉ chiếm có gần 6 trang sách in thoáng đãng. Tuy thế, với cách viết khó giản dị hơn (cách viết mà mọi cây bút theo đòi văn nghiệp đều mong đạt tới), bài nào trong Chuyện cũ... cũng có được ít nhất một chi tiết lý thú, một cái nhìn riêng, hoặc một cách lý giải thuyết phục, dù rất nhẹ nhàng. Lắm chuyện tưởng chừng những ai yêu tích văn chương đều cũng đã biết cả rồi, được Vương Trí Nhàn nhắc lại bằng một giọng điệu thản nhiên như xưa nay chúng vốn thế, chẳng cần thêm thắt làm gì: nó không thương được, hoặc giả có đưa đẩy nữa thì cũng vậy thôi... Tuy nhiên, tác giả cuốn sách đã đặt một điểm nhìn thích hợp để tự do người đọc thấy những chuyện trong làng văn tưởng chừng như lập dị, rong chơi qua đời người, thực ra là sự thường, không thế mới quái lạ, là duyên nghiệp của những ai cầm bút làm văn vẫn tự chất lên lưng, lên óc mình một món nợ không bao giờ trả hết cho nhân gian. Đó là một thứ lao động nhọc nhằn, lam lũ chả khác mấy nả so với bao việc làm, công chuyện mưu sinh thấm đẫm mồ hôi, toan tính và nước mắt khác, song nhiều người đâu có sợ chuyện "lập thân tối hạ thị văn chương", bất kể là sáng tác hoặc phê bình, nghiên cứu văn học, mà vẫn cứ lao hết mình vào đó như thiêu thân, bởi nếu có đôi chút năng khiếu, nếu tận lòng yêu, tận lực tát cạn bản thân mình vì nó, và thêm một tý tẹo may mắn nữa, thì họ có thể làm nên một cái gì đó cho mọi người, đồng thời thấy trong một cái gì đó phiên bản một phần nào đó hồn vía của mình. Vương Trí Nhàn đã "động chạm" vào từng khí cạnh đó thông qua những hiện tượng cụ thể.
Chuyện cũ văn chương kể ra cả từ cái chuyện ông Nguyễn Tuân đi thư viện mấy lần, lần sau cố ý đi sớm hơn lần trước mà vẫn cứ không kiếm được chỗ ngồi vì các bạn trẻ chiếm hết, đã tự thuyết phục, an ủi mình mãi đến nước chả kiên nhẫn được nữa, vì thấy những cái ghế ở Thư viện quốc gia kia, thực ra vốn không để phần các cô, các cậu học trò ngồi đó làm bài tập mà dành cho "những người lấy việc nghiên cứu và sáng tác làm lẽ sống" (trang 199). Qua một chuyện tưởng là vặt vãnh như thế, thậm chí chỉ là chuyện đón Tết, chuyện vài dòng rao bán sách, hoặc chả dính dáng gì đến văn chương như những trang Nhật ký của bộ trưởng kinh tế đầu tiên của Việt Nam là Lê Văn Hiến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thảy đều nói lên một tình cảm, một ý niệm về văn chương, hoặc gần gũi, hoặc góp sức cho nguồn mạch văn chương nước nhà tươi nhuận. Thuật lại những chuyện trong đời sống văn chương Việt Nam thế kỷ XX, tác giả không đơn thuần viết cho những ai chưa biết dược biết, cho những ai biết rồi nhớ lại, nếu quên; mà cốt để người đọc thấy rằng văn chương có ở mọi nơi, mọi lúc, ở trong những chuyện tưởng bói cũng chẳng thấy đâu bóng dáng, hơi hướng văn chương. Thế mà những người làm văn vẫn phát hiện ra, chắt gạn được những ý tưởng cùng chất liệu cho tác phẩm của mình; những chuyện vẫn diễn ra trong sinh hoạt làng văn lắm lúc nghĩ cũng tầm phào, song thực ra vẫn ít nhiều phản ánh ở các mức độ khác nhau tư duy, tâm lý sáng tạo văn học cùng những đặc trưng của loại hình nghệ thuật này, và theo đó là những phong thái sống và làm việc của giới văn bút.
Tạm gác sang một bên tất cả những gì Vương Trí Nhàn đã viết được bấy nay, để xem xét riêng chỉ một Chuyện cũ văn chương, người ta không thể không nhận thấy tác giả của nó thực sự là người hành nghề văn, dù văn chưa chắc đã nuôi nổi người, song cái chỗ đứng và cách nói của ông lại dường như là người ngoài cuộc viết về những người trong cuộc vậy. Như thế để tăng thêm tính khách quan chăng? Duy cái việc ông truy lùng quá khứ, đào bới cái kho sách báo cũ, sưu tầm tư liệu cũng đủ thấy rằng không là người sống mái với nghề mình đã chọn, không thể làm được như thế và viết được những bài chỉ dăm ba trang mà lướt qua, tưởng cũng dễ thôi như thế!
Thiết nghĩ Chuyện cũ văn chương chẳng bao giờ cũ, nếu ta nhìn lại bằng con mắt mới.
Bùi Văn Trọng Cường

Cánh bướm và đoá hướng dương

Với 50 bài, có bài chỉ hai ba trang, bạn đọc đã được lướt qua ngót một thế kỷ từ thời văn học quốc ngữ mới nhen nhóm rồi phát triển tới hôm nay. Tiểu luận của Vương Trí Nhàn vẽ ra bước tiến thần kỳ ấy của văn học Việt Nam bằng nhân vật kèm lời bình được rút ra tất nhiên, theo cảm quan của Vương Trí Nhàn, những nét chính trong đời văn của tác giả ấy.
Đó là công trình của một bộ sử văn học, vậy mà chỉ ngót ba trăm trang, bạn đọc đã được thưởng thức tất cả. Không phải là một lược sử mà là những trang chắt lọc mang giá trị phát hiện. Không có cảm tưởng đọc một thiên nghị luận thường thấy, mà qua cách kể, Vương Trí Nhàn đã phân tích và dẫn ra những sự việc, những tưởng hợp, chẳng khác một cuộc trò chuyện, bàn bạc tay ba của ngưòi viết, tác giả và bạn đọc.
Sự phát hiện là công phu cao nhất của người nghiên cứu, phê bình văn học. Tôi thích thú sự giả dụ hơi hướng báo chí trong phong cách thơ Tú Xương và thơ cũng như văn của Tản Đà mà trong thời ấy chưa có báo chí hoặc vừa mới có báo chí ở miền Bức. Thể hiện táo bạo như vậy, bởi vì Vương Trí Nhàn đã nắm bắt được cái không khí và trào lưu xã hội đương đảo điên trong thơ Tú Xương diễn tả, ấy là lúc giao thời mà báo viết manh nha ra tiếp sức cho dư luận.
Những điểm chính được tìm ra và nhấn mạnh trong các nhân vật của Vũ Trọng Phụng. Nói về tâm lý và sở trường của Nguyễn Khải đã đưa từ đời sống xã hội vào sáng tác như thế nào. Vương Trí Nhàn mổ xẻ chi tiết trạng thái tư tưởng khác nhau của Nguyễn Huy Thiệp từ "Một thoáng Xuân Hương" đến "Tướng về hưu" và một số truyện sau, là phát triển hay yếu đi. Và nhà thơ Nguyễn Duy với "chữ lạ, người lạ". Trong thời gian qua, vô số nhà thơ đã đi tìm "chữ lạ" như đi đãi vàng, nhưng người ta hô là đi tìm mà thực ra chỉ là ngồi tìm, mà rung đùi ngồi tìm thì làm sao ra chữ được. Thơ Nguyễn Duy đã ý thức được quan niệm và việc làm cật lực để cho có được "chữ bàu lên nhà thơ".
Mỗi nhà văn, nhà thơ được đề cập tới, Vương Trí Nhàn đều nêu ra được những phát hiện mới. Tất cả đã góp phần tạo nên bóng dáng, hình thù dòng chảy của văn học Việt Nam một thế kỷ qua.
(Người Hà Nội ra ngày 13/3/2000)
Hồng Hoa (Tô Hoài)

Một người trong số ... ít người...

(Vài cảm nghĩ khi đọc Cánh bướm và đoá hướng dương Tiểu luận phê bình của Vương Trí Nhàn- Nxb Hải Phòng, 1999)

Ngày xưa... Vương Trí Nhàn là một cây bút viết phê bình tiểu luận văn học khá bài bản, kinh viện. Nhưng bây giờ, khoảng 10 năm đổ về đây Vương Trí Nhàn được biết đến như một nhà báo viết bình luận văn học sắc sảo, hóm hỉnh không thiếu sự sòng phẳng, cay nghiệt, cồm cộm. Nhưng cũng chính nhờ những "tố chất" đó của những bài viết mà ông nổi tiếng và có một uy lực nhất định, có một cái giá không phải là rẻ với các báo và đông đảo bạn đọc hiện nay. Giống như hầu hết các bạn văn chương cùng thời và cũng giống y như thời cuộc, ông đã thay đổi nhiều. Đã đổi mới từ văn phong, cốt cách kiểu nhìn cách nghĩ để ngày một sắc sảo hơn, sâu lắng hoàn thiện hơn, khái quát và tinh tế hơn nhích gần tới chân lý của ngôi đền nghệ thuật hơn. Duy chỉ có cái nhiệt huyết của ông thì vẫn y nguyên như ngày xưa. Sôi nổi, hăng hái, nhiệt tình. Sôi nổi lắm, nhiệt tình lắm, hăng hái lắm đến gần như vội vội vàng vàng, hấp ta hấp tấp. ấy nhưng cái "vẫn như xưa" ấy của ông thì lại rất đáng quí đáng mến và đáng yêu. Với đông đảo độc giả nói chung, nó mang lại sự gần gũi thiện cảm. Còn tất nhiên với một số ít người tốt bụng và trang nghiêm thì nó mang lại một sự lo lắng trìu mến cho ông Nhàn. Nhưng thôi, chuyện đó chỉ là chuyện nhỏ
Cánh bướm và đoá hướng dương là một tập hợp 51 bài viết ngắn gọn xúc tích của Vương Trí Nhàn về mấy chục văn nhân Việt Nam thời xưa (trước năm 1945) và thời nay. Ông Vương Trí Nhàn không có ý thu xếp làm một tuyển chọn các "vĩ nhân văn chương" đại để như "108 bài thơ của thế kỷ" hoặc "trăm năm trăm người" v.v... và v.v... Một cái nạn dịch sách đang có nguy cơ bùng nổ trông mấy cái năm cuối thiên niên kỷ thứ hai này. Không biết những người đang nô nức vô tư làm cái công việc "phân loại" đó là để tôn vinh ngôi đền văn nghệ nước nhà hay đây chỉ là cái mẹo láu cá của mấy tay đầu nậu sách bày cho, cốt để gây ấn tượng, gãi vào thị hiếu tò mò của độc giả để hốt bạc, kiếm tiền chia nhau. Cứ đọc mấy chục "văn nhân" mà ông Vương Trí Nhàn viết trong Cánh bướm và đoá hướng dương thì thấy ông này (ông Vương Trí Nhàn) thích thú ai thì ông ấy viết mà thôi. 51 bài trong tập sách này từ cái hồi còn in lẻ tẻ ở trên báo, có không ít bài đã gây ra tranh cái lung tung, đánh động lung tung khiến cho không ít kẻ cười, người tức tối (vẫn chỉ tại cái lối viết của ông Vương Trí Nhàn gây ra). Có một cái cảm giác chung là bây giờ đọc lại 51 bài cùng một lúc trong một tập sách thì thấy có cảm giác bớt hứng thú vì cái phần thời sự nóng hổi đầy tính báo chí đã đi qua rồi. Nhưng cũng phải công bằng mà nói dù có đọc lại vẫn cứ phải nghĩ ngợi nhiều. Đấy là sự nghĩ ngợi về số phận văn học, về thân phận nhà văn, về cái nghề văn chương và sự ba đào chìm nổi của nó trong xã hội, trong cuộc đời. Đó cũng là những giá trị văn chương bền vững và có tính ẩn dấu trong những bài viết (gần như là trong 51 bài viết) của ông Vương Trí Nhàn đã in trong Cánh bướm và đoá hướng dương.
Cái kiểu viết phê bình tiểu luận văn nghệ của ta lâu nay nói thẳng ra thường là hay cứng nhắc áp đặt những lý luận cũng rất cứng nhắc. Người phê bình giống như anh đi úp cá lúc nào cũng lăm lăm trong tay một cái Nơm, vớ được con cá nhỏ úp gọn trong nơm thì vui vẻ lắm và bảo cá đây rồi. Chẳng may vớ được con cá bự, to hơn cái nơm. úp chẳng được thì ông phê bình cáu mà quát lên: đây không phải là cá... đại đẻ là như vậy. Chính cái kiểu phê bình úp nơm cá như thế đã tạo nên một không khí không bình thường trong đời sống văn nghệ. ấy là chưa kể nó còn tạo ra mảnh đất béo bở cho một số người cơ hội xu thời tha hồ hành nghề phê bình văn nghệ dẫn tới làm lệch lạc méo mó hạn hẹp thẩm mỹ nghệ thuật của độc giả. Vì vậy cái được tổng thể của tập sách Cánh bướm và đoá hướng dương này là ông Vương Trí Nhàn không chơi cái kiểu úp nơm cá. Cái được tổng thể vừa có giá trị văn chương lại gây được thiện cảm người đọc ấy là những phát hiện sắc sảo và mạnh dạn của ông về văn học và văn nhân, ấy là những cảm và luận rất sôi nổi, thẳng thắn đôi lúc quá đà của ông. Nói gọn lại ông đã không rơi vào con đường mòn làm phê bình tiểu luận lâu nay. Điều đó là điều thứ nhất đã đặt ông vào vị trí một người trong số... ít người...
Tôi thích 25 bài viết ở phần một Cánh bướm và đoá hướng dương mà ông Vương Trí Nhàn đã viết về các văn nhân ngày xưa (trước 1945). Đó là những bài viết có nhiều giá trị khảo cứu tìm tòi với tâm huyết tìm đến một sự công bằng nào đó trong sự đánh giá văn nghệ mà thời gian qua phê bình văn nghệ vẫn còn bỏ qua vì những lí do tế nhị. Cái kiểu "chơi đồ cổ" của ông Nhàn là kiểu chơi tử tế tôn vinh các tác phẩm và văn nhân ngày xưa của văn đàn Việt Nam. Khác với một số người phê bình văn nghệ tìm đến "chơi đồ cổ" với ý định lén lút làm thứ chính trị hàng xén phủ nhận văn nghệ hiện nay. Cách chơi của ông Vương Trí Nhàn là cách "chơi" có trách nhiệm cũng không phải là cách "chơi " của một số người bộ thực trí tuệ và ứ thừa sự chán đời bất mãn với văn học đương thời chơi để mà giải trí mà thôi. Chính vì vậy 25 bài viết này có ích cho người đọc và cho cả cái không khí văn nghệ bây giờ. Tôi thích những khảo cứu và phát hiện có giá trị của ông như là thích thú bật cười khi thấy ông Nhàn phát hiện ra ông Nguyễn Gia Thiều có cái gì đó của nghệ thuật Ba Rốc mặc dù ý kiến riêng của tôi thì cái Ba Rốc đó nên dành cho bà Hồ Xuân Hương, còn ông Nguyễn Gia Thiều thì cũng vẫn chỉ là nghệ thuật tình cảm tả thực cổ điển mà thôi. Nhưng tôi cũng phải nói rõ hơn là những cảm và luận của ông Vương Trí Nhàn về Khái Hưng, về Vũ Bằng, về Lê Văn Trương về Phan Khôi, Thạch Lam, Hàn Mặc Tử, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân... là những cảm và luận can đảm, sắc sảo vừa có lý lại vừa có tình ở một khía cạnh nào đó nó biểu lộ cái tài, cái tâm của người cầm bút khi viết.
Về những văn nhân đương đại (sau 1945) ông Nhàn viết nghiêng về cảm nhiều - cái tình của ông chi phối mạnh hơn cái nghĩ của ông. Vì vậy 26 bài viết này còn có cái gì đó rụt rè chưa tới. Hay là ông ngại sự va chạm? Trong 26 bài viết này tôi thích hơn cả là hai bài viết về nhà văn Nguyễn Khải và một bài viết về nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Có lẽ đây là hai nhà văn ông Vương Trí Nhàn mến mộ nhất nên ông cũng yêu ghét nồng nàn nhất. Nếu định "có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên dạy văn và có ích cho ai yêu mến văn chương" như lời in ở bìa 4 của Cánh bướm và đoá hướng dương thì đây là 3 bài có giá trị như vậy hơn cả. Không biết có đúng thế không?
Tập Cánh bướm và đoá hướng dương mang đến cho tôi một suy nghĩ về thái độ của người làm phê bình văn nghệ mà có người gọi là cái Tâm, cái đạo đức gì đó. ấy là một thái độ rõ ràng, trung thực, thẳng thắn. Trước tiên là rõ ràng trung thực thẳng thắn với chính mình. Nếu như vậy dù cho có chút cay độc, cồm cộm quá đà thì vẫn thể tất được. Chán đời nhất là cái kiểu phê bình tiểu luận đong đưa, uốn éo, láu cá, lấy lòng, hung hẵn, trắng trợn, đàn áp... Dù có đầy rẫy những "tố chất" đó đi chăng nữa thì vẫn chỉ tạo ra sự nhạt nhẽo trống rỗng và đầy ác cảm, thờ ơ với đông đảo bạn đọc mà thôi.
Điều cuối cùng tôi muốn nói khi đọc Cánh bướm và đoá hướng dương là cái công trạng "báo chí hoá" cách viết phê bình tiểu luận văn nghệ của ông Vương Trí Nhàn. Cách viết này nó tốc độ, nó ngắn gọn, đầy ắp thông tin cụ thể, ít lý luận con cà con kê, ít định kiến và nhiều dân chủ tạo ra sự hấp dẫn và mối giao lưu với đông đảo người đọc. Nhưng mà cách viết này tôi ngờ rằng nó có cái gì đấy thời thượng và hình như có chủ ý "chăm nom" tới thị hiếu đương thời. Nó giống như các trận đá bóng ở vòng đấu loại mà thôi. Nhìn toàn thể một bầu không khí văn chương dài dài- xét toàn thể những khát vọng của người sáng tác và đông đảo người đọc thì hình như đang có một đòi hỏi muốn được dự những trận đấu vào sâu ở vòng lại trực tiếp và cuối cùng là trận thư hùng chung kết của lý luận phê bình văn nghệ. Tôi nghĩ một cây bút như Vương Trí Nhàn chắc chẳng vừa lòng với những bài báo cảm và luận văn nghệ như đã tập hợp trong Cánh bướm và đoá hướng dương. Có lẽ ông cũng đang chuẩn bị cho trận chung kết đời văn nghiệp của ông. Đó là mong muốn từ xa của bạn bè, của người đọc tin tưởng ông vì cái vốn trí thức sâu sắc của ông, vì cái sự hăm hở mạnh mẽ của ông, vì cái tính can đảm của ông và hơn hết vì cái sự lăn lộn trong đời sống văn nghệ và xã hội của ông. Không biết ông Vương Trí Nhàn có lờ mờ cảm thấy sự ngóng đợi này không?
6/1999
(Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh số 26 (bộ mới) ngày 22-7-1999)
Nguyễn Đình Chính

Đọc Cánh bướm và đoá hướng dương

Những ai yêu văn chương, quan tâm đến các nhà văn, nết sống và tác phẩm của họ, đọc Cánh bướm và đoá hướng dương của nhà lý luận Vương Trí Nhàn sẽ thấy bổ ích và lý thú.
Vương Trí Nhàn thực hiện một cuộc hội ngộ, trải chiếu hoa mời các văn nhân của nhiều thời, nhiều thế hệ tới ngồi chung trong tập sách của mình. Đấy lại là những nhà văn đặc sắc, tài hoa đã tồn tại trong lịch sử, dẫu cuộc đời và tác phẩm của họ trải qua nhiều thăng trầm. Là Nguyễn Gia Thiều với Cung oán ngâm khúc, là Hồ Xuân hương, Tú Xương, Tản Đà, Ngô Tất Tố, Phan Khôi, Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng, Lê Văn Trương... là Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Tô Hoài... là Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, cặp vợ chồng tài hoa mệnh bạc Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ rồi cả những khuôn mặt mới Nguyễn Huy Thiệp, Bùi Chí Minh, Phan Thị Vàng Anh... cuộc hội ngộ gần 50 khuôn mặt.
Vương Trí Nhàn không viết theo dạng văn học sử, quá trình hình thành nhà văn và tác phẩm, phân tích đánh giá tỉ mỉ về tư tưởng nghệ thuật từng tác phẩm, ông nghiên cứu cảm thụ tìm ra cái đặc trưng tinh tuý nhất của tác giả, tác phẩm để khám phá và diễn đạt. Cũng có thể coi là những bức phác hoạ chân dung các nhà văn, nhưng có lẽ như thế chưa đủ. Giống như một người sành rượu, biết phân biệt nhiều hương vị khác nhau, và tìm ra những bí quyết, những nguyên cớ làm ra những hương vị ấy, khác nhau mà đều có sức quyến rũ.
Viết về khúc ngâm Cung oán của Nguyễn Gia Thiều, một tác phẩm "rực rỡ và khắc khoải", Vương Trí Nhàn cũng khẳng định lại những điều đã được khẳng định, tác phẩm có nghệ thuật điêu luyện, một triết lý không dễ từ chối, và ông chứng minh ngoài những giá trị trên, Cung oán tồn tại cùng lịch sử còn vì tính hiện đại.
Về Hồ Xuân Hương, Vương Trí Nhàn đã tưởng tượng ra một cuộc phỏng vấn với nhà nữ sĩ tài hoa và tai quái đã khuất cách đây non hai thế kỷ, để trình bày những hiểu biết và nhận định của mình về bà Chúa thơ nôm đáng kính ấy và dựa vào đấy để bộc bạch ý nghĩ của riêng mình như trong đoạn kết:
- " Theo bà hiểu, đóng góp của bà trong văn học là gì?
- Tôi là cái ham muốn muôn đời của con người, muốn được sống thật đã đầy, thật trọn vẹn. Và cũng là cái ham muốn vượt lên trên mọi ràng buộc, không chịu khuất phục các quy phạm, muốn vứt bỏ hết mọi sự thiêng liêng đắp điếm giả tạo để tìm tới cái thiêng liêng chân chính của đời sống".
Hay cũng qua nghiên cứu và cảm thụ Tú Xương, Vương Trí Nhàn đồng thanh cùng cụ Tú đưa ra cái quan niệm về nghề văn:
"Kinh nghiệm đời tôi bảo với tôi rằng: Người ta không bỏ nổi văn chương thì hãy làm nghề văn. Nó là chuyện nghiệp chướng. Không ai lại đi chọn nó cả. Tôi chán những kẻ lấy văn chương để lập thân, với lại chán những sự cảm động hão huyền, nước mắt ngắn nước mắt dài sụt sịt trong thơ lắm rồi. Lúc nào cũng leo lẻo nói đến tình, chưa chắc đã là kẻ có tình với đời, còn trong thơ ngoa ngoắt chua cay như thơ tôi, có tình hay không xin thiên hạ cứ đọc sẽ rõ".
Và mỗi gương mặt, Vương Trí Nhàn nhìn ra một thần thái riêng, một số phận độc đáo, phong cách độc đáo. Sự thực thì các nhà văn nhà thơ có tài chẳng mấy ai có cuộc đời bằng phẳng, có những trang viết nhợt nhạt xuôi chiều. Vấn đề là người viết nhận ra cho đúng, có sức thuyết phục. Vương Trí Nhàn đã làm được điều đó, tuy chưa phải chọn vẹn, có đôi điều còn cần bàn cãi, nhưng trong phần lớn các bài viết, ông có nhiều nhận xét đặc sắc, cách viết đặc sắc. Ông không né tránh mà còn thích thú tìm hiểu phân tích những nhà văn, những tác phẩm còn có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau và đưa ra kiến giải của mình một cách rõ ràng tự tin. Như với Nguyễn Huy Thiệp mà Vương Trí Nhàn bầu là "cây bút vàng" vào cái năm mà tác giả này mới xuất hiện.
"Sự độc đáo kỳ lạ là một yêu cầu nhất thiết với văn học, thế nhưng một phong cách như Nguyễn Huy Thiệp lại hai lần kỳ lạ, vì nó mang tới cái chất mà lâu nay văn học Việt Nam hơi thiếu - chất kiêu bạc, tàn nhẫn, cay đắng", mà Vương Trí Nhàn gọi là "Khuôn mặt nhàu nát", và viết tiếp: "Chỉ người xa lạ với tác phong đám học trò nhạy cảm học đòi làm văn mới dám viết - tức là "chường mặt mình ra"- như vậy, viết bất chấp mọi lề thói trong nghề, chỉ tuân theo một luật chơi duy nhất là nói những điều đào sâu chôn chặt trong lòng". Nhưng Vương Trí Nhàn lại phát hiện ra đằng sau khuôn mặt nhàu nát ấy một mạch trữ tình kín đáo không phải ai cũng nhận ra, đấy là những thoáng rưng rưng của tác giả khi nói về những con người yếu đuối trước trận cuồng phong của lịch sử, hoặc về nỗi cô đơn của người nghệ sĩ... và cùng với những phát hiện khác. Vương Trí Nhàn giải thích về sức hấp dẫn ma quái của tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp đối với bạn đọc: Đằng sau cái vẻ "lạnh lùng ma quái ấy" là cái đẹp tuy mỏng mảnh yếu đuối, nhưng lại là cái quý hiếm, niềm hy vọng trong cuộc đời nghiệt ngã, mà sự sáng tạo văn chương còn cần được hiểu theo cái nghĩa: Khi cái ác được viết ra, tức là có điều kiện để đẩy lùi nó. Mỗi lần nghệ thuật chiến thắng là một lần cái thiện chiến thắng.
Đối với những cây bút mới như Bùi Chí Vinh, Phan Thị Vàng Anh, cũng với thái độ đồng cảm và trân trọng, Vương Trí Nhàn tìm ra cái mạnh cái yếu và quan trọng là cái độc đáo, cái nết người, nết văn của họ từ lúc mới cầm bút và cần gìn giữ, sáng tạo cái độc đáo ấy.
Mỗi tác giả, tác phẩm bằng những bài viết ngắn gọn, nhưng không phải là tóm tắt sơ lược, càng không phải bằng những khuôn mẫu định sẵn, Vương Trí Nhàn viết với ngẫu hứng, với cảm xúc như những bài bút ký lý luận với cái tâm sáng và sự suy ngẫm thấu đáo.
Tôi nhớ vào khoảng giữa những năm 60, Tạp chí Văn nghệ quân đội nhận được một bài phê bình của Vương Trí Nhàn từ một đơn vị bộ đội gửi đến. Người viết phê bình văn học vốn hiếm, viết hay lại càng hiếm. Bài viết của Vương Trí Nhàn từ một đơn vị bộ đội gửi đến. Bài viết của Vương Trí Nhàn được khen là "mát tay". ít lâu sau Vương Trí Nhàn chuyển về Văn nghệ quân đội, và từ đó Vương Trí Nhàn đã có ý thức về nghề nghiệp của mình. Với lao động cần mẫn, học hỏi thể nghiệm, với vẻ nhút nhát khiêm nhường, nhưng Vương Trí Nhàn luôn trăn trở tìm cho mình một cách viết, một cách nghĩ và trau dồi bản lĩnh của người cầm bút. Có lúc đúng, lúc sai, nhưng Vương Trí Nhàn kiên trì tin tưởng và theo đuổi con đường mong đạt tới sự thiêng liêng của nghệ thuật chân chính. Vương Trí Nhàn đã tạo cho mình một khuôn mặt riêng đặc sắc.
Quyển sách này, tôi tạm so sánh hơi thô thiển, là một mặt hàng thông dụng nhưng có chất lượng cao. Trong lúc thị trường tràn ngập hàng giả (kể cả hàng nghệ thuật) thì Cánh bướm và đoá hướng dương không phải một thứ nhãn hiệu màu mè mà là một vẻ đẹp có thực.
9/1999
Xuân Sách

Cánh bướm và đoá hướng dương

Với Cánh bướm và đoá hướng dương, Vương Trí Nhàn đã tạo được cho mình một phong cách và giọng điệu riêng, là điều ít được gắn cho một cây bút phê bình.
Trong số những tên sách lý luận phê bình có phần "khô khan", nghiêm túc, tập tiểu luận phê bình Cánh bướm và đoá hướng dương của Vương Trí Nhàn nghe có vẻ lạ tai và "hơi sái", nhưung khi đọc lời dẫn của tác giả ở đầu sách và đặc biệt khi đọc bài viết về Nguyễn Bính, chúng ta mới hiểu được chủ ý của tên gọi đó. Từ chỗ đứng của người trong cuộc, Vương Trí Nhàn đã đúc rút những kinh nghiệm trực tiếp từ cái đời sống cừa cao quý vừa phiền tạp của nghề văn. Phê bình của Vương Trí Nhàn có một cách thế riêng, thể hiện quan niệm và những thao tác phê bình của riêng anh. Có thể nói, hầu hết những gương mặt tiêu biểu của nền văn học Việt Nam, từ cổ điển đến hiện đại đều có mặt trong tập sách của Vương Trí Nhàn. Các chân dung văn học của Vương Trí Nhàn không phải là những bộ mặt tinh thần đầy đủ, hoàn chỉnh của nhân vật đó, mà phần lớn chỉ là những nét phác hoạ, ấn tượng và đậm nét. Viết về ai anh cũng cố gắng nắm bắt và chỉ ra cái "thần" của riêng người đó, ghi nhận cái độc đáo có một không hai mà chỉ riêng họ mới có. Anh thường chộp lấy một chi tiết nghệ thuật, một nét tính cách nào đó (mà theo anh là tiêu biểu nhất) để nhấn mạnh và tô đậm, coi đó là phần cơ bản trong phong cách nghệ thuật của người nghệ sĩ.
Đọc Cánh bướm và đoá hướng dương ta như được tiếp xúc với một người vừa thông minh, lịch lãm lại vừa suồng sã, xô bồ. Trò chuyện với họ vừa thích thú vừa khó chịu, sắc sảo đấy nhưng cũng hay tỏ ra "tinh tướng", chẳng có gì qua mặt được tôi. Cây bút này đôi khi cũng riết róng và cay nghiệt đến điều khi phê và giễu ai đó. Vương Trí Nhàn như muốn nói rằng: Nghề văn nó thế đấy, cần phải trân trọng nhưng đừng có thần thánh hoá, nó có cái thiêng liêng cao quý lẫn cái phù phiếm nhếch nhác. Để bộc lộ những quan điểm của mình, Vương Trí Nhàn đã sử dụng nhiều hình thức mới trong phê bình: Đối thoại, phỏng vấn, giả tưởng... Khi đánh giá một tập sách tiểu luận phê bình, người ta thường chú ý đến tư tưởng học thuật và giọng điệu. ở tập sách này phần giọng điệu rõ ràng là nổi trội hơn.
(Lao động ra ngày 31-7-1999)
Lưu Khánh Thơ

Cánh bướm và đoá hướng dương

Chọn tiêu đề một bài viềt về nhà thơ đông quê Nguyễn Bính làm tên gọi chung cho tập sách, ngỡ tưởng tuỳ tiện mà thực ra lại ngầm chứa ý tưởng về mối tương quan giữa cái lượn lờ hay biến động như Cánh bay của con bướm với sự thuỷ chung, cần mẫn của đoá hướng dương, bởi trong hình dung của nhà phê bình chính từ thế tương phản đó thấp thoáng hiện ra biểu tượng về các số phận văn chương.
Sự chăm chú quan sát cộng với vẻ chiêm nghiệm, chắt lọc qua nhiều năm tháng lăn lộn "ăn chịu" với nghiệp cầm bút của cả Người lẫn với Ta, Vương Trí Nhàn mới có thể ngẫm ra rằng: "... Một tên tuổi tồn tại được ở đây, vì hầu như họ sinh ra vì văn chương, họ đã sống tất cả cho văn chương" (tr.3).
Từ tâm niệm ấy, tác giả Cánh bướm và đoá hướng dương khảo sát, tìm hiểu những nẻo đường khác nhau dẫn đến nghề văn của 36 nhà văn, nhà thơ xưa và nay, với tham muốn chộp bắt cái thần thái riêng loé lên từ mỗi người để rồi phác dựng lại qua đôi nét chấm phá dưới dạng "Chân dung văn học". Bởi chưng, mỗi nhà văn sở dĩ còn trụ lại được ngoài sự chuyên tâm sống chết với nghề nghiệp lại còn phải biết phấn đấu tạo ra cho mình một bản sắc riêng, một giọng điệu riêng, không ai giống ai.
Thoạt nhìn, tập sách thật ngổn ngang, với những bức ký hoạ về mấy chục nhà văn, nhà thơ đã thành danh, từ các tác giả vào hàng cổ điển đã qua sự sàng sảy, xếp hạng của thời gian như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Gia Thiều, tiếp đến Khái Hưng, Lê Văn Trương, Vũ Bằng, Nguyễn Bính, hàn Mặc Tử và những cây bút có được sự ổn định hơn trong phẩm bình của dư luận như Tú Mỡ, Thế Lữ, Xuân Diệu, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyễn Tuân... Thậm chí đề cập tới cả các nhà văn trẻ tiêu biểu cho mấy lớp tuổi kế tiếp xuất hiện gần đây mà trong nhận định của xã hội còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau như trường hợp của Nguyễn Huy Thiệp, Bùi Chí Vinh, Phan Thị Vàng Anh v.v....
Dường như nỗ lực hướng tới một cách tiếp cận văn học muốn quy tụ cả những hiểu biết cặn kẽ chi tiết về tiểu sử nhà văn và bối cảnh thời đại mà họ sống trong sự đối chiếu qua lại với bản thân sáng tác của họ; sự pha trộn bổ sung, xâm nhập lẫn nhau của nhiều luồng thông tin rút từ các phương tiện khác nhau này đã ít nhiều rọi chiếu vào thế giới sáng tạo của nhà văn (vốn còn bị khuất lấp trong tấm màn bí mật) đã giúp nhà phê bình, trong không ít trường hợp, đến gần được với nhà văn và các tác phẩm của họ. Đôi khi, một số bài viết trong Cánh bướm và đoá hướng dương không dừng lại ở chỗ cung cấp những chỉ dẫn cần thiết và thú vị, tạo cơ hội cho bạn đọc hiểu sâu sắc hơn và do đó thêm khâm phục những nhà văn mình ưa thích và thông qua những đời văn cụ thể mở ra, xới lên những suy nghĩ chung về cuộc đời, về văn chương nghệ thuật... Đó là loạt bài về Thế Lữ như là người mở đường táo bạo (ở phong trào thơ mới) và cũng biết dừng lại đúng lúc; về Thạch Lam vừa thấm đẫm ảnh hưởng của văn hoá phương Tây vừa tìm về cội nguồn văn hoá, về Nguyễn Tuân với vẻ cổ kính rất hiện đại trong giọng điệu văn chương quy tụ được những phẩm chất khác nhau: rất cụ thể mà cũng rất thơ mộng, vừa nhạy cảm vừa uyên bác...
Vương Trí Nhàn cảm nhận văn chương thường ưa thích vận dụng so sánh, liên tưởng từ nhà văn này tới nhà văn khác, từ chuyện văn chương tới chuyện làm ăn, sinh hoạt, nhằm cụ thể hoá sự lý giải của mình. Cho nên, các tiểu luận không được trình bày, phân tích và bình giải một cách khô khan bằng lý lẽ mà dung dị phóng túng như sự tự giãi bầy những cảm nhận, có tính chất thu hoạch lấy thẳng từ những trang viết trong sổ tay cá nhân của tác giả nên linh hoạt mềm mại, rất dễ đọc và đọc không sợ mệt hoặc chán.
Tuy vậy hình như sự cố gắng ghi lại thật ngắn gọn những ấn tượng vốn có của mình về các nhà văn và đời văn của họ ở đây, không phải bao giờ cũng dễ dàng, làm một lần là xong, nên nhiều khi tưởng Vương Trí Nhàn phải viết thêm vài bài khác bổ sung thành hẳn một chùm những mong vẽ được diện mạo của một nhà văn mà tầm hoạt động và sự nghiệp vốn phong phú như trường hợp của Tú Xương, Nguyễn Tuân, Nguyễn Minh Châu, Nam Cao, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Thạch Lam, Tô Hoài, Nguyễn Khải. Nhất là ở các bài viết mà đây đó đưa ra được những nhận xét tinh tế, sắc sảo nào đấy như vì chưa khai triển, đào sâu đến đủ mức độ cần thiết đã vội dừng lại hoặc chuyển sang một ý tưởng khác, rút cục mọi điều đem ra bàn bạc như còn dang dở, nửa chừng, nên chưa làm thoả mãn được bạn đọc muốn hiểu kỹ lưỡng hơn, đầy đủ hơn điều mà bài viết gợi ra. Nên Cánh bướm và đoá hướng dương có gì đấy như những dịp thử bút, những phác thảo thăm dò nhiều hơn là các tiểu luận - phê bình hoàn chỉnh về vấn đề đặt ra trong chừng mực cho phép. Với cảm giác như vậy, công chúng chờ đợi một tập sách khác của Vương Trí Nhàn sẽ bù đắp được phần thiếu hụt này chăng?.
(Phụ san VNQĐ số ra 25-6-1999)
Nguyễn Văn Thành

Trăm hình nghìn vẻ - những cách tồn tại

Vương Trí Nhàn (V.T.N.) đề dẫn như vậy cho những bài viết- đúng hơn là chân dung những con người thơ, con người văn trong tập tiểu luận phê bình mới của ông: Cánh bướm và đoá hướng dương . Người ta ai cũng có một lý do rất mực chính đáng để tồn tại trên đời này dẫu cho thân phận sang cả hay thấp hèn, dù nhân thế tung hô hay vùi dập. ở một phạm vi hẹp hơn, văn chương cũng thế. Nhà thơ-một-bài hay nhà-văn-chục-pho-tiểu thuyết cũng có một lý do để tồn tại, một cái đích để hướng tới: cái tài và cái tình.
Chắt lọc ra hay chộp được từ kho tư liệu văn chương ngồn ngộn tự cổ chí kim của Việt Nam hàng ngàn những chân dung dù đậm nét hay mờ nhoà, V.T.N. thu lấy những nét tâm đắc nhất- theo ông- của những con người thơ, con người văn ấy. Đấy là một Hồ Xuân Hương với "một ham muốn sống thật đã đầy, thật trọn vẹn" một Tản Đà "người mở đường táo bạo và người biết dừng lại đúng lúc", một Nguyễn Công Hoan với "những cái nháy mắt tinh nghịch", một Nguyễn Bính nhởn nhơ như cánh bướm, đồng thời cũng tuyệt đối chung tình như đoá hướng dương hướng về mặt trời. Gần hơn nữa là một Nguyễn Khải- như một cách tồn tại trong văn học, một Nguyễn Minh Châu phấn đấu hết mình vì một lý tưởng nghề nghiệp cao quí, và nhất là một Xuân Quỳnh rực rỡ và đa đoan với tất cả "những buồn vui của kiếp hoa dại", chữ mà V.T.N. dùng để gọi tất cả những bạn nghề của mình.
Nhiều khi bạn đọc yêu quí V.T.N. cứ tự hỏi: ông có khổ sở lắm không, khi phải vất vả len lách giữa các khái niệm, các thuật ngữ, các lý thuyết mới (sở trường của trường phái kinh viện) để tìm kiếm một giọng riêng vừa tai vừa mắt người nghe, người đọc, mà lại không bị hoà lẫn vào đám đông? Công bằng mà nói, một số bài viết của ông có những cái tên không "chuẩn mực" cho lắm: Người có lẽ đã sinh vào mùa xuân (viết về Khái Hưng), Biết cười tức là biết sống (về Tú Mỡ), Mối thiện cảm đến sớm (về Thạch Lam), Xanh vỏ đỏ lòng (về Bùi Chí Vinh)... nhưng đã gợi được sự chú ý nơi người đọc. Dụng công và tung tẩy trong cách đặt tên, ông càng tung tẩy hơn trong hình thức thể hiện: phỏng vấn (với ma Hồ Xuân Hương, ma Xuân Diệu, ma Nam Cao- hoá ra ông lại là người phỏng vấn ma sớm hơn cả, từ 5-7 năm trước), nghiên cứu, phê bình, chân dung... (dù ông có muốn gói gọn trong bốn chữ: tiểu luận, phê bình thì người đọc vẫn cứ thấy nó đa dạng và nhăm nhe nhảy ra ngoài mọi thể loại).
Và có lẽ hấp dẫn nhất trong cuốn sách không phải ở những chính kiến sắc sảo, những vấn đề văn học thời sự hay cao siêu, mà ở những phát hiện nho nhỏ thú vị có thể được tìm thấy đây đó trên các trang sách của Cánh bướm và đoá hướng dương.
(Tuổi trẻ 13-4-1999)
Thu Hà

Cuốn sách có thể thay bản tham luận tại đại hội nhà văn VI

(nhân đọc Buồn vui đời viết của Vương Trí Nhàn, Nxb Hội Nhà văn, 1999)
Các bạn văn thường có ấn tượng về Vương Trí Nhàn như một nhà phê bình sắc sảo, tinh quái, có khi nghiệt ngã nữa trong đời thường và trên các trang viết. Các đồng nghiệp khác của anh mỗi người thường chuyên chú vào một thể loại. Còn anh, anh nổi lên như một nhà bình luận sắc sảo về đời sống văn học hôm nay (giai đoạn văn học đổi mới với cơ chế thị trường). Buồn vui đời viết là tập hợp những bài báo tiếp cận với tình hình văn học như vậy. Có thể nói bằng cách nhìn khái quát và những bài phân tích bình luận xác đáng từng vấn đề, anh đã dựng lên một bức tranh toàn cảnh về hiện tình văn học và rung lên hồi chương cảnh tỉnh các nhà văn đang mải chạy theo nhu cầu của đời sống, của cơ chế thị trường mà sao lãng nghiệp văn chân chính của mình. Anh đã đối chiếu tấm gương lao động nghiêm túc của các bậc thầy lớp trước như Cao Xuân Huy, Nguyễn Từ Chi, Trần Đình Hượu... để tự nhận xét về thế hệ mình: vừa ham chơi vừa ham danh lợi như phần lớn chúng tôi"... "...lần lữa qua ngày, tham bát bỏ mâm, sống bằng những quả pháo chuột lẹt đẹt mà không bao giờ có nổi một quả pháo đùng của ... cả một đời cầm bút (Bao giờ có mặt hàng riêng?) Căn bệnh lớn nhất của nền văn học hôm nay là bệnh thiếu đỉnh cao, văn học được mở ra theo chiều rộng, có nền mà không có đỉnh (Không nỗi lo nào là của riêng ai).
Là một nhà phê bình, anh phản ứng một cách chính đáng trước những sự khen tặng không có chuẩn mực gì, nhân bài viết về lễ bế giảng khoá V trường viết văn Nguyễn Du in trên Văn nghệ số 31 (19997). Anh phân tích: Sở dĩ bài viết này làm bạn đọc trái tai, vì những mỹ từ được xuất hiện quá tập trung, chứ nhìn rộng ra trên các trang viết sách báo hiện nay, lời lẽ đâu có hạn chế hơn, như giải nhất một cuộc thi thơ được gọi là trạng nguyên thơ, một số người dùng theo, không thấy gì là chướng. Căn bệnh ấy giống như việc cho điểm ở một trường (không phải là ít), đáng 7 thầy cho 10, không mất gì của thày mà còn mang lại niềm vui cho cả học trò, phụ huynh, niềm vui cho Sở, cho Bộ, tội gì không cho. Nhưng Vương Trí Nhàn vẫn cho đó là bệnh nhẹ, anh cho rằng: đó là dấu hiệu của căn bệnh trầm trọng hơn: bệnh thiểu lực do sức sáng tạo suy yếu, thành quả làm ra chính người trong cuộc cũng thấy không vừa lòng, mà không biết cách nào làm được hơn, đành phải vuốt ve mơn trớn nhau, đề cao nhau, cho đỡ buồn. Theo anh, tiểu thuyết phần lớn viết dông dài, không dựa trên quan niệm vững chắc nào về thể loại. Truyện ngắn xuất hiện đều, nhưng... nhiều tập truyện của một tác giả thường được gom lại tuỳ tiện, đại khái như một rổ hoa quả, dăm quả doi, vài quả ổi, mấy quả nhãn, xanh chín lẫn lộn, bảo đa dạng cũng được, mà bát nháo cũng được. Phê bình văn học thì gặp đâu hay đó, tản mát tuỳ tiện, đến mức phải nghĩ rằng nó hầu như không có. (Bốc đồng và những nguyên do của nó). Điểm qua một số điều kiện in ấn, anh cho rằng Chúng ta đang viết văn trong một hoàn cảnh thuận lợi hơn bao giờ hết (trang 173) nhưng vẫn không có tác phẩm hay, bởi: Khi một nghệ sĩ thiếu đi đủ thứ, từ học vấn đến lòng tự trọng, nhất là thiếu đi những yêu cầu cao về nghề nghiệp, tóm lại, thiếu đi nội lực cần thiết thì chẳng những không thể khai thác tốt mọi thuận lợi, mà trong hoàn cảnh mới, lại có dịp bộc lộ nhiều nhược điểm nặng nề.
Qua một số việc trong đời thường, như cô bạn anh dọn tủ sách, khi có hai cuốn cùng tên, cùng tác giả, một cuốn in trên giấy nội đen xỉn, một cuốn giấy trắng ngon lành như miếng giò lụa. Tất nhiên cô bạn sẽ loại bỏ cuốn giấy đen, nhưng anh ngăn lại: Chưa chắc bản giấy trắng đã đáng giữ hơn có thể có hàng tạ lỗi chưa ai sửa, có thể thiếu đi cả một tay sách chưa biết chừng, để nói về việc làm sách ào ào tuỳ tiện hiện nay. Rồi một số hiện tượng biên soạn sách liều lĩnh chụp giật, chủ yếu chỉ là photocoppy hoặc là con số cộng của các bản tham luận, rồi hiện tượng nhà văn trẻ được mang danh là trẻ mãi đến khi có... cháu ngoại.
Là người quan tâm đến từng động tác làm ăn của đồng nghiệp, lại là cán bộ lâu năm của Nxb Hội Nhà văn, có thể nói Vương Trí Nhàn đã có một góc độ ưu thế để dựng được một bức tranh khái quát về đời sống văn học, cách sống cách viết và việc in ấn của các Nxb hiện nay bằng những phân tích ngắn gọn, hóm hỉnh, có lúc sắc sảo đến nghiệt ngã, như anh tự nhận. Cách viết của anh như con dao mổ mini dưới bàn tay thành thạo của một bác sĩ ngoại khoa đang rạch những đường chính xac đến từng ly mét. Nhiều khi ở dạng một câu khen, anh chỉ cần bớt hoặc thêm một chữ, đã lái nó thành câu trào lộng. Bình về việc đầu năm 1998, đã in xong cuốn Truyện ngắn hay 1997, không cần đến độ lùi thời gian cần thiết để đánh giá cho chuẩn, anh bình: "Đời sống văn học vận động thật nhanh nhảu và cũng thật hào phóng!"
ở đại Hội Nhà văn, tất nhiên ta đã được nghe những báo cáo về thành tựu của văn học nhiệm kỳ qua như thường lệ. Tất nhiên thành tựu là có thực, nhưng không thể không nhắc nhở những gì đang tồn tại (và sẽ tồn tại). Buồn vui đời viết của Vương Trí Nhàn có thể là một đối trọng với những thành tựu trên. Giới nhà văn rất cần có những cây bút phê bình nghiệt ngã, riết róng như vậy, để ta chớ vội ngủ yên trên những thành tựu ẩn bên dưới cả rừng sách vừa xuất bản.
(10-6-2000)
Vân Long

Buồn vui của người trong cuộc

(Nhân đọc Buồn vui đời viết của Vương Trí Nhàn, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2000)

Quả là "Tiên trách kỷ, hậu trách nhân"... Với rất nhiều những tôi, chúng tôi, phần lớn chúng tôi, lúc chúng ta, làng văn chúng ta, nghề văn chúng ta... nhà phê bình Vương Trí Nhàn từng trải nghiệm nhiều năm trong đời sống văn chương đã tự phân thân để phân tích, đánh giá lại mình và giới mình. Anh thông thuộc nhiều dẫn chứng để chỉ ra mọi nhẽ cái hay cái dở của nghề cầm bút, cả trong giới sáng tác và phê bình, nhất là những năm gần đây.
Tôi cho rằng phần lớn những câu chuyện, những lề lối và mánh lới được nêu ra trong tập sách hầu như chẳng có gì thật mới mẻ lạ lẫm trong giới văn chương- nếu không muốn nói là lời dám tiếu hàng ngày những khi trà dư tửu hậu. Điều đáng bàn là tác giả biết đan kết, bao quát các chi tiết, sự kiện nhãn tiền ấy thành vấn đề, thành tính vấn đề của đời sống văn chương. ở đây có câu chuyện của người viết, của bạn đọc, của thời cuộc, của người quản lý và bài học lịch sử "dầu lòng vậy, cầm lòng vậy". Lại có chuyện chưa xa như Nguyễn Tuân in Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1973) mà thành nỗi niềm đau đáu: "Giữa hai quyển sách ấy là bao nhiêu phá sản, đổ vỡ, đến nay còn lưu lại, thành những câu chuyện để cả giới truyền tụng. Đại khái có khi sách đã sắp chữ rồi, có bông in rồi vẫn bị cúp" (tr.47); lại có những điều nghịch lý mà lại là hợp lý, thậm chí còn là đòi hỏi của đời sống trước cái chập chờn của nghề văn nghề báo hôm nay: "Huống chi viết báo còn có ích ở chỗ nó tập cho người ta thói quen làm việc đều đều, nhất là không chỉ biết viết theo cảm hứng, mà còn biết làm theo đơn đặt hàng có sẵn trong giới hạn thời gian nghiêm ngặt- tóm lại là những phẩm chất phải nói là cần thiết cho con người trong thời hiện đại" (tr.161); hoặc đi sâu hơn, tác giả nhấn thêm một lần về cái bệnh của cơ chế hình thức chủ nghĩa mà ai cũng biết, cũng chịu, cũng "tìm cách hoà hợp" sống chung với bão lũ: "Một là... Hai là, bấy lâu công việc viết văn lại thường được xem là một công tác hơn là một nghề nghiệp. Gọi là công tác tức là phần nhiệt tình là chính, ai lập trường vững và có năng khiếu một chút làm được. Người viết văn được xếp gọn trong hệ thống hành chính, theo thâm niên mà lên lương và hưởng bổng lộc. Khi trao đổi về sáng tác, sự chú ý của mọi người trước tiên hướng vào nội dung tư tưởng, còn các vấn đề nghề nghiệp ít khi được bàn bạc một cách thấu đáo" (tr.194).
Qua tập sách tác giả nói đúng, nói thẳng, nói thật ra biết bao nhiêu ý, bao nhiêu câu, đoạn có thể khiến cho anh, cho chúng ta cùng phải nghiêm túc suy nghĩ lại. Song hiển nhiên khi ai cũng can dự vào cái lỗi chung ấy thì rốt cuộc hoà cả làng, thậm chí cả làng đều biết rõ: "Bấy giờ thì không riêng ai nữa, hầu như cả giới cầm bút ở ta đều đã công nhận rằng đời sống văn học hôm nay mở ra theo chiều hướng rộng, nhưng lại thiếu chiều cao, có nền mà chưa có đỉnh". Cá nhân tôi chia sẻ phần nào với ý kiến này nhưng vẫn băn khoăn về nỗi chúng ta có đoàn có hội mà sao không có ai cầm trịch, không có trọng tài dám chịu trách nhiệm phân xử đúng sai. Đời sống văn học- đặc biệt về phê bình và tranh luận văn học- quả đang trong tình trạng chuyển động brao. Có những cuộc thi, những tập thơ đã được thẩm định và trao giải, thế rồi vì thiên kiến, vì hóng đâu đó về sự "nguy hại", "có vấn đề", "kẻ xấu lợi dụng" mà có người quay ngược lại chê bai, suy diễn những là nghệ thuật non kém, thiếu cảm xúc. Và rồi cũng chẳng có ai nói một lời cho phải!
Từ cuốn sách của Vương Trí Nhàn có thể liên hệ và mở rộng tới nhiều vấn đề liên quan đến câu hỏi: Tại sao văn học ta rơi vào tình trạng lúng túng như hiện nay? Và tác giả đã có câu trả lời : Hãy bắt đầu bằng cách tự phê phán... Có lẽ chính với tinh thần trung thực ấy- trung thực trước hết với chính mình, giữa chúng ta với chúng ta - cho nên sự phê phán khá nghiêm khắc, lời lẽ đôi khi đến độ, đến điều mà người đọc vẫn chấp nhận được, vẫn đồng cảm với "người trong cuộc" để cùng trăn trở, cùng tháo gỡ, đi lên. Tôi muốn nói thêm: chúng ta đang rất cần định hướng trong quản lý văn học, cần bàn tay nhạc trưởng phê bình, cần tiếng còi trọng tài thực tài và dám chịu trách nhiệm.
(Người Hà Nội 2/9/2000)
Nguyễn Hữu Sơn

Buồn vui đời viết

Hơn ba chục năm cặm cụi làm việc, lại được "trời phú" cho cái tính hoạt, bặt tiệp trong nghề văn, Vương Trí Nhàn đã khắc được tên mình trong làng văn, mà việc đó quả không dễ dàng chút nào. Từ Bước đầu đến với văn học (1980). Các nhà văn Hà Nội viết về Hà Nội (1987) đến Những kiếp hoa dại (1993), Cánh bướm và đoá hướng dương (1999). Buồn vui đời viết (1999), Vương Trí Nhàn đã tự vạch một lối trong nghề nghiệp- lối viết uyển chuyển tung phá đôi khi gần tới sự tinh tế của phê bình văn học.

Buồn vui đời viết

Như ghi chú ở đầu sách Buồn vui đời viết là dạng "sổ tay văn hoc" gồm 36 bài nhỏ (đã in báo một phần lớn) mà tác giả tự nhận "chúng cũng phần nào có được sự nhất quán trong cách nhìn và giọng điệu", các bài viết kiểu "sổ tay" này nhằm "Từ kinh nghiệm của một người trong cuộc, phác hoạ lại đời sống văn học với một ít ngóc ngách cụ thể của nó". Tác giả đã lấy tên bài viết trong tập sách Cánh bướm và đoá hướng dương đặt tên cho tập sách mới Buồn vui đời viết.
ở chặng đầu của văn nghiệp ta thấy Vương Trí Nhàn viết rất nắn nót, mỗi bài đều chứa đựng vừa xúc cảm run bật vừa sáng rõ lý trí (như bài viết 1967 Đầu súng trăng treo- một mạch thơ kháng chiến được tiếp tục) đến Buồn vui đời viết, giọng văn đã trở nên quá già dặn, cái giọng của người trong cuộc, lăn lộn tiếp xúc nhiều, biết nhiều nên lúc nào cũng chủ động cũng riết róng mà chưa thấy nhiều người phản bác. Dường như thời gian và sự viết đã làm anh đủ tự tin để viết về nghề nhưng vẫn cần một chỗ dựa trong lĩnh vực này nên Vương Trí Nhàn đã "mượn" Nguyễn Khải để Nguyễn Khải để phô diễn thêm ý tưởng của mình "Năm 1963, Nguyễn Khải từng có một bài viết mang tên Con đường dẫn tôi tới "nghề" văn. Riêng việc chữ nghề ở đây được đặt trong dấu ngoặc kép, đã hàm ý một tuyên ngôn: Ông coi nghề nghiệp của mình là một nghề đặc biệt" (trang 164) . Rồi cũng vì nhận thấy mình bị "nghiệp văn" vận vào nên có lúc Vương Trí Nhàn đau đáu thực sự "mỗi lần nhìn lại cuộc đời viết văn của người bạn vong niên mà bản thân tôi từng chịu ơn rất nhiều này, tôi như có dịp nghĩ thêm và thấm thía về duyên nợ văn chương" (trang 142). Và anh đã làm việc trong nghề văn vất vả theo tinh thần "Một trong những lý do khiến cho nhiều người cứ phải ngần ngại khi nói tới chuyện chuyên nghiệp hoá, có lẽ là ngay ở tính chất quyết liệt của nó. Từng người phải vắt kiệt sức mình cho công việc".
Là người mạnh mẽ trong cách nghĩ và cách viết mới đặt vấn đề "Văn chương, đồng tiền và sự kiếm sống" (tên một bài trong tập nói về cái nông nỗi "cơm áo không đùa với khách thơ"). Lối nói thẳng thắn, thực tế của anh đã được đồng tình ở nhiều người làm nghề văn: "Văn chương là cả một sân chơi, rộng rãi: ai muốn sống theo kiểu lãng tử, gặp đâu hay đấy, xin cứ tiếp tục. Còn với những cây bút nghiêm túc sống chết với nghề, thì việc giúp đỡ cho họ có được mối quan hệ công khai, rành mạch, hợp lý... đối với đồng tiền cũng đã đến lúc thành việc cần thiết, vì đây là tiền đề tốt, để giúp cho họ có thể giải phóng hết tiềm năng sáng tạo" (trang 172)
Trong cuốn sách này nhiều lần Vương Trí Nhàn nói tới cái "không khí nghề nghiệp" bị nhạt nhoà của làng văn, điều ấy quả là có thực nếu so sánh hiện tại với thời gian trước 1945 khi mà các bậc như Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính còn tung hoành trên văn đàn. Nhân nêu vấn đề này, anh có nói đến một thói quen không lành mạnh đã làm suy yếu văn học- sự tung hô nhau không phải lối, ở người khác, thiết nghĩ viết như thế sẽ là có động chạm, với Vương Trí Nhàn, anh không e ngại vì nói và nói có thiện ý. Quả thực người viết bài này (và có lẽ nhiều người khác) đã hiểu thêm được nhiều hơn về nghề văn, giới văn hiện nay ở ta. Khi đọc bài "chất lang chạ trong mỗi chúng ta" (Đã in trong Những kiếp hoa dại), thoạt đầu nhiều người cứ thấy gai gai vì thấy tác giả thẳng quá, "bạo mồm bạo miệng" quá, song khi biết rằng đó là một thực tế, và có người đã như thế, lại thầm cảm ơn Vương Trí Nhàn đã nói hộ trước bàn dân thiên hạ cái bệnh có tính cách tâm lý này.
Trong cuốn này có bài Quyền được hách đọc rất vui và cả vấn đề nêu và lối viết, nhưng đọc xong cảm thấy Vương Trí Nhàn đôi khi cũng lây cái tính "thích được hách", chẳng hạn anh đã "đo ván" Thơ Mới 1932-1945 bằng một nhận định rất chi là "cả vú lấp miệng em": "Phong trào Thơ mới là một hiện tượng bồng bột và chói sáng trong đời sống văn hoá dân tộc thế kỷ XX" (trang 177). "Chói sáng" thì ai cũng biết nhưng "bồng bột" thì chỉ thấy tác giả và thêm vài người nữa nhận định như thế.
Sau Chuyện nghề (Nxb Hội Nhà văn, 1999) của Nguyễn Khải loại sách như Buồn vui đời viết của Vương Trí Nhàn đã dần dần làm đầy "tủ sách sáng tác", những cuốn sách không thể thiếu trên giá của người làm nghề văn mà trước đây chúng ta đã được đọc kiểu như Sổ tay viết văn (Tô Hoài) Đời viết văn của tôi (Nguyễn Công Hoan), Chuyện nghề (Nguyễn Tuân)... Một nhà văn viết về chuyện nghề văn, đã đành, còn một người viết phê bình như Vương Trí Nhàn viết về nghề văn mà linh hoạt, mà phong phú với những vui buồn bất tận, kể ra cũng còn hiếm. Mục tiêu của tác giả quả là đáng khích lệ "Quá trình dân chủ hoá đời sống tinh thần hiện nay, đã mở ra khả năng để dư luận có thể hiểu kỹ thêm và nhất là hiểu đúng hơn cả vai trò sứ mệnh văn chương lẫn những đặc điểm của nó, về mặt nghề nghiệp".
Bùi Việt Thắng

Là nhà văn, càng không được xa lạ với văn học thế giới

Phóng viên báo Văn hoá đã có cuộc trao đổi với nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn nhân dịp Nxb Hội Nhà Văn xuất bản cuốn Ngoài trời lại có trời của ông.

Là một trong những nhà phê bình xông xáo, nhưng độc giả vẫn ngạc nhiên với cuốn Ngoài trời lại có trời. Đây là tập phê bình tiểu luận về văn học nước ngoài (VHNN). Trong khi người ta đã quen nghĩ "đối tượng" của V.T.N là các tác giả, tác phẩm Việt Nam...

- Xuất xứ sâu xa của cuốn sách là một nỗi ám ảnh. Nỗi ám ảnh ấy đã đi cùng tôi, từ khi bước chân vào lãnh địa phê bình văn học đến nay: muốn biết, muốn hiểu VHNN. Ngay cả các nhà văn, nhà thơ trước hoặc cùng lứa chúng tôi như Bằng Việt, Lưu Quang Vũ, Hoàng Hưng... đều chung niềm tha thiết ấy. Với thời của chúng tôi, đó là một mong muốn xa xỉ. Bởi khó thực hiện. Nhưng cam đoan nó không phải là một sự làm dáng, mà là một đòi hỏi tất yếu. Các cụ ta ngày xưa đều thạo chữ Hán, đều đọc văn chương Đường, Tống, Minh, Thanh bằng chữ Hán. Tới đầu thế kỷ này, các nhà văn, nhà thơ đồng thời là những người thành thạo tiếng Pháp, hoặc thường xuyên được tiếp xúc với văn học văn hoá Pháp từ khi ngồi trên ghế nhà trường. Nhà văn Tô Hoài là một người có tuổi thơ cũng khó khăn nhưng đã rất chịu khó tìm đọc sách Pháp, có những lúc tự dịch Môpatxăng ra tiếng Việt. Bây giờ cụ Tô Hoài vẫn tiếp tục đọc các nhà văn Pháp đương đại. Cái thiệt thòi của lứa bọn tôi là việc tiếp cận với VHNN đầy khó khăn. Nhưng tôi tâm niệm, một ngưòi làm văn học phải biết văn học nước ngoài. Biết để xem người ta làm thế nào, mình đang ở chỗ nào. Chúng ta phải phát triển theo những quy luật chung của văn học thế giới. Chúng ta không thể là một cái gì đó độc đáo, ngoại lệ, đứng ngoài mọi cái. Những gì người ta đã đi qua thì chúng ta vẫn sẽ phải đi. Vậy là tôi tự học ngoại ngữ để tự mở cho mình một cánh cửa nhìn ra thế giới văn học. Khi ta đọc sách của các tác giả từ những phương trời xa xôi, ta càng nhận ra bản thân mình rõ hơn

Các nhà văn, nhà thơ khác có chia sẻ nỗi ám ảnh đó với ông không?


- Anh Nguyễn Khải kể, khi đọc Phaoxtơ có nhiều từ anh không hiểu. Nhưng do sự đoán định về mặt tư tưởng của tác phẩm nên anh hiểu những điều mà người thạo ngôn ngữ mới hiểu được. Nhờ có tác động chủ quan mà người đọc hiểu được tác phẩm. Dịch phẩm hay chính là cuốn sách mà như thể dịch giả cũng viết được như thế. Nhà văn Nguyễn Minh Châu có lần nói đùa, khi đọc cái gì hay mình thường có cảm giác đó là điều hình như mình muốn viết nhưng giờ đã có người viết mất rồi. Các nhà văn lớp trước rất khuyến khích chúng tôi đọc. Với đông đảo bạn đọc thì Nguyễn Khải chỉ kể chuyện đi thôi. Kỳ thực anh ấy đọc rất cẩn thận. Anh Vũ Cao kể, hồi kháng chiến, anh lấy trong thành ra được những cuốn sách tiếng Pháp, anh Nguyễn Đỉnh Thi đã đi bộ đến chỗ anh Vũ Cao để đọc tất cả những thứ đó. Đọc xong lại đi bộ về. Anh Nguyên Ngọc đi B từ năm 1962, nhưng khoảng năm 70-71 anh có nhắn với bạn anh ở Hà Nội gửi cho ít sách trong đó có Quyển Truyện bỏ dở của Aragông. Đấy, ngay ở chiến trường, anh Ngọc vẫn tìm thấy tiếng vọng của tất cả những cái đau xót, những cái dằn vặt, suy tư của Aragông trước những diễn biến của thế giới và cảm thấy cần phải đọc cuốn đó.

Còn mối quan hệ giữa dịch và sáng tác, cần phải xác định ra sao?


- Một trong những con đường thể hiện của nhà văn là thể hiện các tác phẩm dịch. ở các nước những người dịch giỏi đồng thời là nhà văn. Hiện nay tôi thấy có hiện tượng không lành mạnh, đó là sự tách rời giữa người dịch và người sáng tác. Dường như có một đám thợ để chuyên môn dịch. Nhiều ngưòi coi thường việc dịch lắm. Họ không biết rằng chính dịch cũng là một sự sáng tạo. phải xem các tác phẩm ấy là một bộ phận cảu VHVN chứ không phải là VHNN. Một trong những đóng góp lớn của Xuân Diệu là dịch. Ông ấy làm cho chúng ta hiểu thêm về thơ không vần là như thế nào. Rồi Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi... Tôi viết ơn những người ấy. Tôi hiểu họ không chỉ qua tác phẩm của họ mà còn qua các bản dịch. Thật buồn khi thấy toàn tập của họ không đưa các dịch phẩm vào.

Thời nay, các nhà văn có nhiều thuận lợi hơn trong việc tiếp cận VHNN nên việc đọc có thể là hiển nhiên, không bức xúc như trước. Ông nghĩ về điều này thế nào?


- Hiện nay, thông tin đa dạng hơn bao giờ hết. Đó không phải là một thuận lợi mà là khó khăn. Con người bị xâu xé bởi nhiều thứ. Tôi biết các nhà văn bây giờ đọc nhiều hơn, nhưng nhiều người chỉ đọc chơi chơi. Không nghiền ngẫm, suy nghĩ để xem xét người ta đang đi theo hướng nào, mình đang ở vị trí nào. Các nhà văn phải đọc không chỉ qua bản dịch. Kinh nghiệm của tôi, nếu chỉ trông cậy vào những người dịch và nhà nghiên cứu, thì tôi đã hiểu nhầm văn học Nga và văn học Trung quốc. Văn học Việt Nam là một bộ phận của văn học thế giới. Mà nhà văn thì không được xa lạ với văn học thế giới.

(Báo Văn hoá số 881+882, ra ngày 26/4 - 1/5/2003)

Lê Nguyên Chung
SỐ TRUY CẬP online